kết quả từ 1 tới 9 trên 9

Ðề tài: Tìm hiểu bài " Việt Bắc" của Tố Hữu

  1. #1
    bichngoc's Avatar
    bichngoc is offline Thành viên
    Join Date
    Aug 2009
    Bài gởi
    268
    Thanks
    258
    Thanked 450 Times in 163 Posts

    Học tập suôt đời! Tìm hiểu bài " Việt Bắc" của Tố Hữu

    TÌM HIỂU BÀI “VIỆT BẮC” CỦA TỐ HỮU


    MỤC TIÊU :
    - Cảm nhận được một thời kháng chiến gian khổ mà anh hùng, nhất là nghĩa tình gắn bó thắm thiết của những người kháng chiến với Việt Bắc, với nhân dân, đất nước
    - Nghệ thuật bài thơ đậm đà tính dân tộc, làm dạt dào thêm tình yêu quê hương đất nước trong tâm hồn mỗi người Việt Nam.

    I/Tìm hiểu chung

    1/ Hoàn cảnh và mục đích sáng tác

    - Tháng 10/1954, Trung ương Đảng, Chính phủ về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Tố Hữu đã từng gắn bó với Việt Bắc trong suốt những năm kháng chiến. Nhà thơ đã viết bài thơ này.

    - Một trang sử mới của đất nước, một giai đoạn mới của cách mạng mở ra. Tố Hữu viết bài thơ này với xúc cảm của anh cán bộ kháng chiến.

    + Bài thơ nhằm tổng kết, tái hiện lại giai đoạn gian khổ, vẻ vang của cách mạng và kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc, nó trở thành kỉ niệm khắc sâu lòng người.

    + Bài thơ là khúc ca hùng tráng về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến, đồng thời thể hiện tình cảm ân nghĩa thuỷ chung.

    + Bài thơ còn thể hiện những dự cảm, mong ước về tương lai giữa miền xuôi và miền ngược.

    - Đoạn trích SGK nằm trong phần đầu của bài thơ. Nửa sau của bài thơ chủ yếu nói về hẹn ước, tương lai giữa miền xuôi và miền ngược.

    2/. Kết cầu của bài thơ

    - Kết cấu là thuật ngữ chỉ nội dung và hình thức của một tác phẩm văn học (thơ, văn). Những biểu hiện bên ngoài là hình thức bên trong là nội dung.

    - Bài thơ có kết cấu theo lối đối đáp của ca dao trữ tình. Thực chất nó là lối độc thoại, đắm mình trong hoài niệm ngọt ngào về quá khứ. Nó nêu bật tình nghĩa thắm thiết của con người với cách mạng và kháng chiến. Nó còn là khát vọng về tương lai và nhiều dự cảm mới mẻ.

    - Lời đối đáp giữa mình, ta, kẻ ở người đi chỉ là sự phân thân của nhân vật trữ tình, chỉ là cách để tâm trạng bộc lộ đầy đủ hơn trong hô ứng, đồng vọng giữa hai con người tưởng tượng.

    - Bài thơ chia làm 2 phần. Đoạn trích thuộc phần đầu ôn lại những kỉ niệm đầy nghĩa tình sâu nặng của con người. Đó là tình cảm của anh cán bộ kháng chiến đối với thiên nhiên và con người Việt Bắc, tình cảm của Việt Bắc đối với cách mạng và kháng chiến.

    3/. Cảm xúc chủ đạo của đoạn trích

    - Cảm xúc chủ đạo là tình cảm của nhân vật trữ tình
    Đoạn trích bộc lộ nỗi nhớ thương da diết của anh cán bộ kháng chiến với thiên nhiên và con người Việt Bắc. Đồng thời là khúc ca hùng tráng về cuộc kháng chiến. Tình cảm ấy đọng lại niềm tin vào Đảng, vào Bác Hồ.

    II. Đọc hiểu văn bản

    1. Cuộc chia tay


    - Nhà thơ tạo ra lời đối đáp giữa kẻ ở người đi

    + Việt Bắc hỏi:

    Mình về có nhớ ta chăng
    Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
    Mình về mình có nhớ không
    Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn

    + Anh cán bộ kháng chiến trả lời:

    “Tiến ai… hôm nay”

    - Sử dụng từ ngữ diễn tả trong tình yêu đôi lứa, vợ chồng

    + Mình (trở đi trở lại)
    + Ta

    - Bằng âm điệu ngọt ngào như lời ru trong thể thơ lục bát. Ba biện pháp nghệ thuật trên đây đã đưa người đọc vào thế giới tâm tình đầy ân nghĩa, trải dài trong không gian, thời gian tâm tưởng.

    - Lời của Việt Bắc lên tiếng trước. Đây là thể hiện sự nhạy cảm về tâm hồn trước hoàn cảnh đổi thay. Việt Bắc hỏi về thời gian “mười lăm năm ấy”, hỏi về không gian “nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”. Hỏi về không gian và thời gian thường gợi kỉ niệm vừa gắn bó vừa sâu nặng. Nó chứng tỏ người dân Việt Bắc sống gần gủi với thiên nhiên, với những gì rất cụ thể.

    Lời hỏi của Việt Bắc đã khơi dậy bao kỉ niệm, khơi nguồn cho nỗi nhớ. Không gian và thời gian cụ thể “mười lăm năm” bỗng trở thành không gian và thời gian tâm tưởng.

    - Lời anh cán bộ kháng chiến. Chia tay với Việt Bắc, anh cán bộ kháng chiến thấy lòng mình bâng khuâng, xao xuyến. Hàng loạt những từ ngữ gợi tâm trạng: “bâng khuâng”, “bồn chồn”, “tha thiết”. Anh cất lên lời đáp. Lời đáp lại như một câu hỏi “Tiếng ai tha thiết bên cồn”. Biết rồi đấy mà vẫn hỏi. Một tiếng ai gợi ra sự gắn bó của người trong cuộc. Nó như lời giả từ của một người yêu với một người yêu. Hình ảnh “áo chàm” được lấy làm hoán dụ để chỉ người có áo, “áo chàm” màu áo không bao giờ phai nhạt ấy lại là biểu tượng cho tấm lòng son sắt thuỷ chung của đồng bào các dân tộc Việt Bắc với cách mạng và kháng chiến. Cảm động nhất vẫn là hình ảnh “cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”. Cuộc chia tay không nói nên lời. Nó lưu luyến bịn rịn.Ta cũng chẳng nghe tiếng họ nói những gì với nhau. Chỉ có đôi bàn tay nắm lấy bàn tay và nói giùm tất cả.

    Tạo ra sự đối đáp, nhà thơ đã dàn dựng được cảnh chia tay. Nhưng đó chỉ là hình thức kết cấu bên ngoài, còn ở chiều sâu chính là sự thống nhất của tình cảm trong tiếng nói chung.

    - Đó là cách sử dụng ngôn ngữ diễn tả cuộc chia tay.
    Nhà thơ sử dụng rất sáng tạo đại từ “mình”

    + “Mình” chỉ bản thân người nói (ngôi thứ nhất) nhưng ở văn cảnh này “mình” còn chỉ đối tượng giao tiếp. Một đối tượng gần gũi, gắn bó, thân thiết, người bạn đời yêu mến. “Mình” đã chuyển sang ngôi thứ 2 nhằm diễn tả quan hệ tình yêu đôi lứa, tình vợ chồng. “Mình” được dùng ở nghĩa thứ hai (đối tượng trực tiếp trò chuyện). Nó góp phần tạo ra mối quan hệ gắn bó giữa hai người – Anh cán bộ kháng chiến và đồng bào các dân tộc Việt Bắc. Ngôn ngữ vừa giản dị, mộc mạc diễn tả tình cảm chân thật, cuộc chia tay bịn rịn, lưu luyến đến bâng khuâng.

    - Để diễn tả cuộc chia tay đầy lưu luyến, nhà thơ sử dụng câu thơ lục bát cân xứng, nhịp nhàng phù hợp với tâm trạng bâng khuâng của con người trong cuộc tiễn đưa:

    - Mình về / mình có / nhớ chăng
    Mười lăm năm ấy / thiết tha mặn nồng
    Mình về / mình có / nhớ không
    Nhìn cây nhớ núi / nhìn sông nhớ nguồn

    - Tiếng ai / tha thiết / bên cồn
    Bâng khuâng trong dạ / bồn chồn bước đi
    Áo chàm / đưa buổi / phân li
    Cầm tay nhau biết / nói gì hôm nay.

    Sự ngắt nhịp ấy chính là nhịp điệu tâm hồn. Nó tạo ra sự cộng hưởng, đồng vọng của cả người ở, người đi. Đó là nỗi nhớ da diểt, mênh mang với thiên nhiên, con người, với cách mạng và kháng chiến.

    View more random threads:

    Nguồn: http://diendankienthuc.net.

  2. The Following 3 Users Say Thank You to bichngoc For This Useful Post:


  3. #2
    bichngoc's Avatar
    bichngoc is offline Thành viên
    Join Date
    Aug 2009
    Bài gởi
    268
    Thanks
    258
    Thanked 450 Times in 163 Posts

    Học tập suôt đời!

    2. Nỗi nhớ da diết về thiên nhiên con người Việt Bắc

    - Trong đoạn trích có hơn 30 từ “nhớ” (cụ thể là 35 từ)

    - Tác dụng của việc lặp lại nhiều lần từ “nhớ”.

    + Về tâm lí, một hiện tượng, một âm thanh, một từ xuất hiện nhiều lần trước mắt ta, buộc ta phải chú ý.

    + Về ý nghĩa “nhớ” gắn liền với đối tượng cụ thể. Nó khắc sâu trong tâm trạng người đọc, người nghe về sắc thái tình cảm của con người. Khi diễn tả nỗi nhớ của anh cán bộ kháng chiến, khi là sự đồng vọng cùng nhớ về sự kiện cách mạng, kháng chiến. Nỗi nhớ mang nhiều cung bậc.

    - Đặc sắc của đoạn thơ là ở chỗ Tố Hữu tạo ra lối đối đáp trong tưởng tượng. Nhà thơ để Việt Bắc hỏi:

    + Mình đi, có nhớ?

    + Mình về, có nhớ?

    Mỗi cụm từ ấy xuất hiện tới ba lần. Nó xoáy sâu vào lòng người, gợi nỗi nhớ như dòng chảy. Thiên nhiên Việt Bắc hiện ra:

    “Trám bùi”, “măng mai”

    + Những mái nhà “hắt hiu lau xám”

    + Những địa danh cụ thể: “Tân Trào”, “Hồng Thái”

    + Những di tích lịch sử “mái đình, cây đa”

    Ba tiếng “mình” trong một câu thơ mang lại cách hiểu khác nhau. Theo cách hiểu thông thường mình (1), mình (2) chỉ người ra đi. Mình (3) chỉ người ở lại. Nhưng cũng có cách hiểu mình (1), mình (2), mình (3) chỉ là một đối tượng: người ra đi. Người ra đi tự hỏi mình, tự đối thoại với mình để đừng bao giờ quên Việt Bắc. Cũng có thể người ở lại nhắc người ra đi đừng có quên những ngày tháng, đừng quên chính mình, đánh mất mình. Thơ như thế thật dung dị mà sâu sắc.

    Đáp lại sự khẳng định:

    Ta với mình, mình với ta
    Mình ta sau trước mặn mà đinh ninh
    Mình đi mình lại nhớ mình
    Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu

    Cũng là ba tiếng “mình”. Mình (1) và (2) chỉ người ra đi. Mình (3) chỉ người ở lại. Tiếng gọi ấy gần gũi, thân thiết quá. Ta nghe như người yêu nói với người yêu, tiếng của người bạn đời yêu dấu, tiếng của vợ, của chồng. Nhưng ba tiếng “mình” ấy cũng để chỉ người ra đi. Lời hứa trở nên mặn mà, đinh ninh, sâu sắc. Nhân vật trữ tình tự phân thân, lại hoà làm một xoáy sâu vào tiếng nói của tâm trạng để tìm sự đồng vọng của người đọc người nghe.

    - Đó là đoạn thơ:

    Ta về mình có nhớ ta
    Ta về ta nhớ những hoa cùng người
    ….
    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung

    - Thiên nhiên thật tươi tắn “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”. Thiên nhiên mang vẻ đẹp riêng của Việt Bắc “Mùa xuân mơ nở trắng rừng” không ở đâu có được. Không chỉ có ở màu sắc đường nét mà cả âm vang sôi động: “ve kêu rừng phách đổ vàng”.

    - Cái hay, cái đẹp của đoạn thơ là sự kết hợp đến dung dị, cứ một câu tả về thiên nhiên là một câu nói về con người.

    + “Đèo cao ánh nắng dao gài thắt lưng”: Con người thật bình dị, khoẻ khoắn trong lao động. Đến những câu:

    + “Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”

    + “Nhớ cô em gái hái măng một mình”

    Con người cần mẫn trong công việc. Con người Việt Bắc thật vui, thật tươi sung sướng đón nhận cuộc sống hoà bình, không có tiếng súng, hạnh phúc đã trở về với họ “Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”

    - Đoạn thơ hay và tiêu biểu khi nhớ về thiên nhiên và con người Việt Bắc. Thiên nhiên làm nền để bức chân dung phác thảo về con người hiện lên mồn một. Con người gần gũi với thiên nhiên, bình dị như thiên nhiên.

    - Nhớ về những con người lam lũ nghèo khổ:

    Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
    Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô
    Tấm lưng người mẹ nghèo miền núi đã đi vào thơ không chỉ một mà nhiều người:

    Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
    Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ
    (Nguyễn Khoa Điềm - Tiếng hát những em bé lớn trên lưng mẹ)

    Buổi chiều mẹ lên rẫy
    Thấy bóng cây Kơ nia
    Bóng tròn che lưng mẹ
    Về nhớ anh mẹ khóc
    (Bóng cây Kơ nia-Ngọc Anh phỏng dịch theo điệu Ka choi)

    Người đọc không thể quên hình ảnh “nắng cháy lưng” trong thơ Tố Hữu.

    - Nhớ về những người thuỷ chung son sắt, nghĩa tình với kháng chiến:

    Thương nhau chia củ sắn lùi
    Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

    Thơ hay và thấm thía bởi đề cập tới nghĩa tình con người cùng chia sẻ gian khổ và niềm vui. Cuộc sống con người chỉ đẹp khi gian khổ càng sắt son, gắn bó. Thơ Tố Hữu luôn đi sâu phát huy những gì tốt đẹp của truyền thống hơn là theo hướng cách tân hiện đại. Vì thế, nhà thơ khám phá những nét riêng của cuộc sống bình dị mà ấm áp của Việt Bắc:
    Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
    Chày đêm nện cối đều đều suối xa.

    - Nhưng cũng có lúc nỗi nhớ về cảnh và người Việt Bắc đẫm trong cảm xúc mơ màng, lãng mạn:

    Nhớ gì như nhớ người yêu
    Trăng lên đỉnh núi, nắng chiều lưng nương

    Nỗi nhớ thật đẹp. Ta nhận ra trong nỗi nhớ ba đối tượng không thể tách rời: đó là nhớ về thiên nhiên, con người cuộc kháng chiến hào hùng và niềm tin sâu sắc.

    3. Nỗi nhớ về cuộc kháng chiến và niềm tin của con người

    - Đoạn thơ sau:

    + “Nhớ khi giặc đến giặc lùng
    … mai lên”
    + “Ai về ai có nhớ không… các khu”

    Đọc những đoạn thơ này ta bắt nhịp được với âm vang, hình ảnh sống động của khúc ca hùng tráng về cuộc kháng chiến

    + Đó là cuộc kháng chiến thể hiện thể trận của chiến tranh nhân dân. Toàn dân đánh giặc, đánh giặc ngay tại chỗ, đánh giặc bằng tất cả những gì có trong tay. Dựa vào rừng núi để đánh giặc, quân dân đoàn kết:

    Núi giăng thành luỹ sắt dây
    Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù
    Mênh mông bốn mặt sương mù
    Đất trời ta cả chiến khu một lòng.

    + Đó là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện. Đây là hình ảnh trên đường ra trận:
    “Những người Việt Bắc của ta
    …mai lên”

    Những hình ảnh so sánh: “Đêm đêm rầm rập như là đất rung”. Những hình ảnh khẳng định đội ngũ “Quân đi điệp điệp trùng trùng”;
    Những hình ảnh đẹp trong chiến đấu “ánh sao đầu súng”;
    Những hình ảnh khẳng định sức mạnh: “bàn chân nát đá”

    Tin vui chiến thắng gắn liền với chiến dịch lớn:
    Tin vui chiến thắng trăm miền
    Hoà bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

    Nhịp thơ sôi nổi, giọng thơ hào hùng, những hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ khác hẳn ở đoạn trên êm ả, ngọt ngào, Tố Hữu đã truyền đến cho người đọc, người nghe khí thế sôi động của chiến tranh toàn dân mà không phải nhà thơ nào cũng có được. Ở đây Tố Hữu đã kết hợp giọng điệu ngọt ngào của thơ lục bát với khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

    + Tố Hữu đã phản ánh cuộc chiến tranh toàn diện:

    Ai về ai có nhớ không
    Ngọn cờ đỏ thẳm gió lồng cửa hang
    ….
    Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu

    Ta vừa đánh giặc vừa lo phát triển kinh tế, vừa đánh giặc vừa chăm lo phát triển văn hoá. Có như vậy mới thực hiện đúng đường lối kháng chiến trường kì gian khổ nhưng nhất định thắng lợi. Ta nói vậy vì ta có niềm tin.

    - Tin vào Đảng và Bác Hồ:

    ở đâu u ám quân thù
    Nhìn lên Việt Bắc: cụ Hồ sáng soi
    Ở đâu đau đớn giống nòi
    Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền

    Ở đâu, ở đâu dù u ám do quân thù tàn phá, giày xéo, đốt phá, chém giết hãy hướng về Việt Bắc. Nơi ấy có Trung ương Đảng và Bác Hồ. Câu thơ đã gieo một niềm tin tưởng. Nhịp thơ, lời thơ đã tạo ra giọng điệu trang trọng, lắng sâu trong niềm tin tưởng vô bờ. Anh cán bộ kháng chiến và đồng bào các dân tộc Việt Bắc và cả chúng ta nữa đều có niềm tin ấy.

    + Sử dụng thể thơ lục bát, một hình thức thơ ca dân tộc. Nó phát huy đầy đủ tiếng Việt nhất là con người Việt Nam. Đó là thuỷ chung tình nghĩa, đạo lí uống nước nhớ nguồn.

    * Những suy nghĩ, tư tưởng tình cảm của con người đất nước gắn liền với đạo lí tình nghĩa cách mạng.

    - Tình nghĩa thuỷ chung, son sắt với căn cứ địa cách mạng

    Mình về có nhớ núi non
    Nhớ khi kháng chiến thuở còn Việt Minh
    Mình đi mình có nhớ mình
    Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa

    - Tình nghĩa thuỷ chung gắn bó trong những ngày kháng chiến gian khổ, ác liệt:

    + “Mình đi có nhớ những ngày
    Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù
    Mình về, có nhớ chiến khu
    Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai”

    + “Nhớ sao ngày tháng cơ quan
    Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo”

    + “Nhớ khi giặc đến giặc lùng
    Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
    Núi giăng thành luỹ sắt đầy
    Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”

    - Thuỷ chung tình nghĩa, thơ diễn tả lối sống theo đạo lí uống nước nhớ nguồn:

    + “Mười lăm năm ấy ai quên
    Quê hương cách mạng dựng nên cộng hoà
    Mình về mình lại nhớ ta
    Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”

    - Thuỷ chung, son sắt với niềm tin vào Đảng, Bác Hồ:

    + “Ở đâu u ám quân thù
    Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi
    Ở đâu đau đớn giống nòi
    Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền”

    - Tình nghĩa thuỷ chung với nhân dân các dân tộc Việt Bắc:

    + “Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
    Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô”

    + “Ta đi ta nhớ những ngày
    Mình đây ta đấy đắng cay ngọt bùi
    Thương nhau chia củ sắn lùi
    Bát cơm sẻ nửa, chăn xui đắp cùng”

    + “Mình đi có nhớ những nhà
    Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son”

    + “Nhớ từng bản khói cùng sương
    Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
    Nhớ từng rừng nứa bờ tre
    Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy”

    + “Ta về mình có nhớ ta
    Ta về ta nhớ những hoa cùng người
    …thuỷ chung”

    * Thể thơ lục bát được vận dụng trong một bài thơ dài và nhiều lời thể hiện truyền thống dân tộc để làm sáng tỏ nghĩa tình cách mạng.

    - Thơ lục bát tạo ra âm hưởng thống nhất mà lại biến hoá đa dạng

    + Tha thiết ở nỗi nhớ
    + Sôi nỗi, mạnh mẽ, hào hùng ở ca ngợi kháng chiến
    + Trang trọng thiết tha thể hiện niềm tin biết ơn

    - Lời nói giàu hình ảnh

    + Thiên nhiên, con người Việt Bắc
    + Biểu dương lực lượng và sức mạnh
    + Thế trận của chiến tranh nhân dân

    - Sử dụng nhiều cách chuyển nghĩa truyền thống

    + Lối so sánh
    + Lối ẩn dụ
    + Tượng trưng, ước lệ

    “Ta về ta nhớ những hoa cùng người”
    “Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”
    “Ở đâu u ám quân thù”

    ( Sưu tầm ) Nguồn: http://diendankienthuc.net.

  4. The Following User Says Thank You to bichngoc For This Useful Post:


  5. #3
    Dĩ Vãng 10's Avatar
    Dĩ Vãng 10 is offline Thành viên
    Join Date
    May 2009
    Bài gởi
    1,522
    Thanks
    0
    Thanked 1,003 Times in 504 Posts

    Học tập suôt đời! Những vấn đề cơ bản trong bài thơ "Việt Bắc" ( Tố Hữu)

    Những vấn đề cơ bản trong bài thơ "Việt Bắc" ( Tố Hữu)


    1.Hoàn cảnh sáng tác bài thơ :

    -Việt Bắc là quê hương CM, trước CM T8 có khởi nghĩa Bắc Sơn (1941), nơi thành lập MTVM; trong kháng chiến chống Pháp là nơi ở và làm việc của TW Đảng và chính phủ

    -Bài thơ Việt Bắc được sáng tác vào tháng 10/ 1954. Đây là thời điểm các cơ quan TW của Đảng và chính phủ rời chiến khu VB về Hà nội, sau khi cuộc kháng chiến chống pháp đã kết thúc vẻ vang với chiến thắng ĐBP và hoà bình được lập lại ở miền Bắc.

    Nhân sự kiện lịch sử này, Tố Hữu viết bài thơ để ôn lại một thời kháng chiến gian khổ mà hào hùng thể hiện nghĩa tình sâu nặng của những người con kháng chiến đối với nhân dân Việt Bắc, với quê hương CM.

    2.Chủ đề của đoạn trích “Việt Bắc

    Đoạn trích ca ngợi con người và cuộc sống ở chiến khu VB trong thời kì kháng chiến chống Pháp gian khổ, hào hùng, đồng thời thể hiện tình nghĩa thủy chung giữa người Cách mạng và nhân dân Việt Bắc.

    3. Nghệ thuật đậm đà tính dân tộc trong đoạn trích “Việt Bắc”

    - Thể lục bát tài tình, thuần thục.
    - Sử dụng một số cách nói dân gian: thi liệu, xưng hô, đối đáp,...
    - Giọng điệu quen thuộc, gần gũi, ấm áp.
    - Sở trường sử dụng từ láy.
    - Cổ điển+hiện đại
    - Kết cấu bài thơ: lời đối đáp quen thuộc của ca dao, dân ca. Không chỉ là đối đáp mà còn hô ứng.
    - Cặp đại từ nhân xưng mình ta.

    4. Nội dung đoạn trích:

    4.1 - Sắc thái tâm trạng ,lối đối đáp của nhân vật trữ tình trong đoạn trích:

    -Hoàn cảnh sáng tác tạo nên một sắc thái tâm trạng đặc biệt, đầy xúc động bâng khuâng: Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay....Đó là cuộc chia tay của những người từng sống gắn bó suốt mười lăm năm ấy, có biết bao kỉ niệm ân tình, từng sẻ chia mọi cay đắng ngọt bùi, nay cùng nhau gợi lại những hồi ức đẹp đẽ, khẳng định nghĩa tình thuỷ chung và hướng về tương lai tươi sáng. Chuyện ân tình cách mạng đã được Tố Hữu khéo léo thể hiện như tâm trạng của tình yêu lứa đôi.

    -Diễn biến tâm trạng như trong tình yêu lứa đôi được tổ chức theo lối đối đáp quen thuộc của ca dao, dân ca, bên hỏi, bên đáp, người bày tỏ tâm sự, người hô ứng, đồng vọng.

    + Bốn câu đầu là lời ướm hỏi dạt dào tình cảm của ngưòi ở lại,đồng thời cũng khảng định tấm lòng thuỷ chung của mình:

    Đại từ Mình-Ta:Mối quan hệ gần gũi thân thiết -> gợi bao lưu luyến, bâng khuâng, bồn chồn, bịn rịn.

    Điệp từ “nhớ.”(láy lại)

    Lời nhắn nhủ của VB “Mình có nhớ ta, mình có nhớ không” vang lên ray rứt,gợi nỗi nhớ triền miên

    15 năm gợi thời gian.

    Cây, núi, sông, gợi không gian thời gian hoạt động kháng chiến tại không gian Việt Bắc + 4 câu sau là tiếng lòng của người cán bộ cách mạng về xuôi.

    Nghe câu hỏi nên người về bâng khuâng , bồn chồn => Tình cảm thắm thiết của người cán bộ với cảnh và ngưòi Việt Bắc

    Đại từ phiếm chỉ “ai”nhưng lại rất cụ thể gợi sự gần gũi thân thương

    Áo chàm: H/ảnh bình dị, chân tình, chỉ người Việt Bắc.

    “Cầm tay ....”.-> Câu thơ bỏ lửng ngập ngừng nhưng đã diễn đạt chính xác thái độ xúc động nghẹn ngào không thể nói nên lời của người cán bộ từ dã Việt Bắc về xuôi..

    .->Hỏi và đáp đều mở ra bao nhiêu kỉ niệm về một thời cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, mở ra bao nhiêu nỗi niềm nhớ thương. Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên trong là độc thoại, là sự biểu hiện tâm tư, tình cảm của chính nhà thơ, của những người tham gia kháng chiến.

    Qua hồi tưởng của chủ thể trữ tình, cảnh và người Việt Bắc hiện lên thật đẹp:

    - Nỗi nhớ thiết tha của người cán bộ sắp về xuôi đã khắc sâu thiên nhiên núi rừng Việt Bắc với vẻ đẹp vừa hiện thực, vừa thơ mộng, thi vi, gợi rõ những nét riêng biệt, độc đáo, khác hẳn những miền quê khác của đất nước. .

    + Hình ảnh thiên nhiên thơ mộng, ấm áp tình người: Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương., bản khói... sớm khuya...

    + Bức tranh tứ bình, mỗi mùa một hình ảnh đẹp làm say lòng người.
    Mùa đông: rừng xanh, hoa chuối đỏ tươi
    Mùa xuân: hoa mơ nở trắng rừng
    Mùa hè: ve kêu, rừng phách đổ vàng
    Mùa thu: ánh trăng soi sáng khắp núi rừng...

    = > Có thể thấy thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với bao vẻ đẹp thật đa dạng, phong phú, sinh động, thay đổi theo từng thời tiết, từng mùa,đầy màu sắc lãng mạn, ấm áp lòng người.

    Chỉ những người đã từng sổng Việt Bắc, coi Việt Bắc cũng là quê hương thân thiết của mình mới có nỗi nhớ thật da diết, những cảm nhận thật sâu sắc, thấm thía về cảnh Việt Bắc như vậy.

    -Nhưng có lẽ đẹp nhất trong nỗi nhớ về Việt Bắc là sự hoà quyện thắm thiết giữa cảnh với người, là ấn tượng không thể phai mờ về những người dân Việt Bắc cần cù trong lao động, thuỷ chung trong nghĩa tình :

    + Người VB cần lao gian khổ và đầy tình thương yêu chia ngọt sẻ bùi (câu 31->câu 36)

    +Hình ảnh sinh hoạt của cán bộ CM trong chiến khu hoà lẫn với sinh hoạt của nhân dân VB: Tiếng mõ rừng chiều, chày đêm nện cối, lớp học i tờ, giờ liên hoan

    = >Chính nghĩa tình của nhân dân với cán bộ, bộ đội, sự đồng cảm và san sẻ, cùng chung mọi gian khổ và niềm vui, cùng gánh vác mọi nhiệm vụ nặng nề, khó khăn,... tất cả càng làm Việt Bắc thêm ngời sáng trong tâm trí của nhà thơ.

    4.2-Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu và vai trò của Việt bắc trong cách mạng và kháng chiến .

    + Khí thế hào hùng lên đường hành quân của quân và dân ta với những hình ảnh tuyệt đẹp mang dáng dấp sử thi (câu 53-> câu 70)

    Cách mạng và kháng chiến đã xua tan vẻ âm u, hiu hắt của núi rừng, đồng thời khơi dậy sức sống mạnh mẽ của thiên nhiên và con người Việt Bắc.

    + Chiến công Việt Bắc là bản tổng kết những nét lớn của sự phát triển ngày càng cao những chiến dịch, những thắng lợi trong niềm vui phơi phới.

    -Vượt qua bao thiếu thốn, gian khổ, hi sinh Việt bắc đã làm nên những kì tích, những chiến công gắn với những địa danh: Phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, phố Ràng, Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên,...

    -Tố Hữu không chỉ miêu tả khí thế hào hùng của cuộc kháng chiến mà còn đi sâu lí giải những cội nguồn sức mạnh đã dẫn tới chiến thắng. Đó là sức mạnh của lòng căm thù: Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai, sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung: Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, của sự hoà quyện gắn bó giữa con người với thiên nhiên - tất cả tạo thành hình ảnh đất nước đứng lên

    Nhớ khi giặc đến giặc lùng
    ……………………………
    Đất trời ta cả chiến khu một lòng.

    - Đặc biệt, Tố Hữu đã nhấn mạnh, khẳng định Việt Bắc là quê hương của Cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, là đầu não của cuộc kháng chiến, nơi hội tụ bao tình cảm, suy nghĩ, niềm tin và hi vọng của mọi người Việt Nam yêu nước:

    +Trong những năm tháng đen tối trước Cách mạng, hình ảnh Việt Bắc hiện dần từ mờ xa (mưa nguồn suốt lũ, những mây cùng mù) đến xác định như một chiến khu kiên cường, nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu tranh, nơi khai sinh những địa danh sẽ mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc (dẫn đoạn thơ từ câu Mình về,-còn nhờ núi non đến câu Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa).

    + Trong những ngày kháng chiến gian lao, Việt Bắc là nơi có Cụ Hồ sáng soi, có Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công.

    ( Sưu tầm) Nguồn: http://diendankienthuc.net.

  6. #4
    Thandieu2's Avatar
    Thandieu2 is offline Trưởng phòng
    Join Date
    Aug 2009
    Đến từ
    LIÊN HỆ 0984 084 911
    Bài gởi
    4,255
    Thanks
    1,025
    Thanked 1,482 Times in 849 Posts
    Blog Entries
    1

    Học tập suôt đời! Tác gia Tố Hữu - Và phân tích bài thơ Việt Bắc của ông.

    TÁC GIA TỐ HỮU

    I . VÀI NÉT VỀ TIỂU SỬ .

    Tố Hữu (1920 - 2002) tên thật là Nguyễn Kim Thành, quê Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế . Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo ham thích văn chương . Chính truyền thống gia đình và cảnh sắc thơ mộng của xứ Huế cùng những nét văn hoá đâm đà bản sắc dân tộc góp phần quan trọng trong việc hình thành hồn thơ Tó Hữu .

    Tố Hữu sớm tham gia hoạt động cách mạng . Năm 1938 được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương . Mặc dù bị bắt, bị giam cầm trong nhà tù nhưng ý chí cách mạng vẫn không hề lay chuyển .

    Cách mạng tháng Tám 1945 nổ ra, Tố Hữu lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Huế .

    Sau cách mạng tháng Tám, Tố Hữu ra Bắc và liên tục giữ những chức vụ quan trọng của bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước .

    Năm 1996 được Đảng và Nhà nước tặng thưởng giải thường Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt 1)

    II . CON ĐƯỜNG THƠ TỐ HỮU .

    Tố Hữu là cây đại thụ của văn chương cách mạng, đặc biệt ở thể loại thơ trữ tình chính trị . Con đường thơ của ông luon song hành với các giai đoạn cách mạng, phản ánh những chặng đường cách mạng đồng thời thể hiện sự vận động của tư tưởng và nghệ thuật của nhà thơ .

    1 . Chặng đường “Từ ấy” .

    Tập thơ “Từ ấy” (1937 - 1946) là niềm hân hoan của tâm hồn trẻ đang băn khoăn đi tìm lẽ yêu đời tìm thấy lí tưởng và ánh sáng cách mạng , tìm thấy lẽ sống .

    Tập thơ được chia làm ba phần : Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng . Trong đó Xiềng xích là phần thành công nhất, thể hiện sự trưởng thành của người thanh niên cộng sản và bước phát triển của hồn thơ Tố Hữu .

    Tập thơ thể hiện chất men say lí tưởng, chất lãng mạn trong trẻo, tâm hồn nhạy cảm, sôi nổi, trẻ trung của một cái tôi trữ tình mới .

    2 . Chặng đường “Việt Bắc” .

    Tập thơ “Việt Bắc” (1947 - 1954) chủ yếu hướng vào thể hiện quần chúng cách mạng, được phát triển theo hướng khái quát – tổng hợp mang đậm tính sử thi .

    Tập thơ thể hiện ba điểm cần lưu ý :
    - Là bản anh hùng ca của cuộc kháng chiến, phản ánh những chặng đường gian lao anh dũng và thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp .
    - Thể hiện thành công hình ảnh và tâm tư của quần chúng nhân dân kháng chiến .
    - Kết tinh những tình cảm lớn của người Việt Nam kháng chiến mà bao trùm và thống nhất mọi tình cảm là lòng yêu nước nồng nàn .

    3 . Chặng đường “Gió lộng” .

    Tập thơ “Gió lộng” (1955 - 1961) tiếp tục khuynh hướng khái quát và cảm hứng lịch sử cuối tập Việt Bắc, kết hợp với cái tôi trữ tình công dân, khai thác các chủ đề lớn : Chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thóng nhất đất nước và tình cảm quốc tế vô sản .

    Các tác phẩm viết về an tình cách mạng, về miền Nam là thành công hơn cả . (Quê mẹ, Người con gái Việt Nam, Mẹ Tơm ...)
    Hạn chế : cái nhìn đơn giản một chiều, lí tưởng hoá đời sống .

    4 . Chặng đường “Ra trân” và chặng đường “Máu và Hoa” .

    Tập thơ “Ra trận” (1962 – 1971) và tập thơ “Máu và Hoa” (1972 – 1977) là lời động viên, cổ vũ, ca ngợi cuộc chiến đấu, mang đậm phong cách chính luận, thời sự, chất sử thi, có lúc mang âm hưởng anh hùng ca .

    5 . Chặng đường “Một tiếng đờn” và “Ta với ta” .

    Tập thơ “Một tiếng đờn” (1992) và tập thơ “Ta với ta” (1999) là những vần thơ chiêm nghiệm về lẽ sống, về cuộc đời bên cạnh khuynh hướng trữ tình chính trị, thể hiện sự kiên định vào lí tưởng cách mạng của nhà thơ .

    III . PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT .

    Tố Hữu là nhà thơ của lí tưởng cộng sản . Thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị .
    - Con đường thơ Tó Hữu bắt đầu với sự giác ngộ lí tưởng cách mạng, luôn gắn liền quá trình sáng tác với các giai đoạn của phong trào đấu tranh cách mạng .
    - Lí tưởng cộng sản luôn là ngọn nguồn của mọi cảm hứng sáng tạo nghệ thuật của Tố Hữu .
    - Coi việc làm thơ là một nhiệm vụ cách mạng, một hoạt động cách mạng nhằm tuyên truyền , giác ngộ, giáo dục, đấu tranh cho lí tưởng cách mạng .
    - Kết hợp hài hoà dòng thơ cách mạng đầu thế kỉ XX với truyền tống thẩm mĩ của văn học trung đại .. Các thể thơ bảy chữ, năm chữ, lục bát ... cách phối âm, hiệp vần mang nặng tính truyền thống hơn là sáng tạo, tìm tòi, đổi mới .

    Nguồn: Sưu tầm

    Nguồn: http://diendankienthuc.net.
    thay đổi nội dung bởi: Thandieu2, 03-04-13 lúc 07:49 AM

    Kết bạn với mình ở nick facebook nhé!

    www.facebook.com/profile.php?id=100005888501320




  7. #5
    Thandieu2's Avatar
    Thandieu2 is offline Trưởng phòng
    Join Date
    Aug 2009
    Đến từ
    LIÊN HỆ 0984 084 911
    Bài gởi
    4,255
    Thanks
    1,025
    Thanked 1,482 Times in 849 Posts
    Blog Entries
    1

    Học tập suôt đời! Việt Bắc - Tố Hữu

    (Trích)
    Tố Hữu

    I . ĐẶT VẤN ĐỀ .

    Tháng 10 năm 1954, sau thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trung ương Đảng và chính phủ rời Việt Bắc để trở về Hà Nội tiếp tục lãnh đạo phong trào cách mạng . Trước sự kiện đó Tố Hữu đã viết bài thơ Việt Bắc . Đây là bài thơ ân tình cách mạng, gọi lại những kỉ niệm thân thiết và vẻ đẹp của Việt Bắc từ ngày đầu gian khổ chắt chiu xây dựng căn cứ địa cách mạng cho đến khi kháng chiến thắng lợi . Bài thơ kết cấu theo lối hát giao duyên đối đáp nam nữ nhưng lại thể hiện những ân tình cách mạng , và vì thế bài thơ như một chất men say ngấm sâu vào lòng người , trở nên gần gũi , đằm thắm hơn với những cung bậc lan toả của nó .

    II . GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ .

    Mở đầu bài thơ là những lời phảng phất phong vị ca dao, tái hiện cảnh tiễn đưa đầy dùng dằng, quyến luyến .
    Mình về mình có nhớ ta
    Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
    Mình về mình có nhớ không
    Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn .

    Con người đang đứng trước một cuộc biệt li nên câu thơ cũng nhuốm màu li biệt . Tác giả đặt đại từ “mình” và “ta” ở hai đầu câu thơ tạo cảm giác xa xôi, cách biệt, ở giữa là tâm trạng băn khoăn của người ở lại : không biết bạn có còn thuỷ chung trước bao đổi thay và cám dỗ của cuộc sống mới . Lòng ngập tràn nhớ thương, người ở lại không nén được lòng mình đã đưa ra những câu hỏi dồn dập : mình có nhớ ta, mình có nhớ không ? ...càng làm cho người ra đi thêm lưu luyến , cứ vang lên như một niềm khắc khoải khôn nguôi . Không chỉ đưa ra những câu hỏi, người Việt Bắc còn nhắc lại khoảng thời gian mười lăm năm gắn bó thiết tha . Mới đọc ta bắt gặp tứ thơ quen thuộc từ ca dao tình yêu nam nữ kiểu như : Mình về có nhớ ta chăng , Ta về ta nhớhàm răng mình cười ... trong đó người tình chỉ nhắc đến kỉ niệm mười lăm năm ấy . Nhưng đến cặp lục bát tiếp theo thì nó không còn là tình yêu nữa mà được thay thế bằng tình yêu thương gắn bó với với mảnh đất quê hương Vịêt Bắc . Nhớ núi, nhớ rừng thực chất là nhớ ngọn nguồn của cách mạng .
    Bốn câu thơ đầu tạo thành hai câu hỏi rất khéo mà mỗi câu hỏi về một khía cạnh khác nhau : thời gian và không gian gói gọn một thời cách mạng, một vùng cách mạng .

    Trước tâm trạng, nỗi niềm bộc bạch của kẻ ở, người đi im lặng lắng nghe :
    Tiếng ai tha thiết bên cồn
    Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi

    Người ra đi im lặng là để tri âm, để tiếng ai từ từ ngân vang lắng sâu vào hồn mình cho thật vẹn tròn, đầy đủ . Lặng im nhưng vẫn không kém phần mãnh liệt . Người ở lại nói thiết tha, người đi nghe thiết tha, sự hô ứng ngôn từ này tạo sự đồng vọng trong lòng người . Nhịp thơ lục bát đang đều đặn, nhịp nhàng đến đây như cũng vì chút bối rối ấy trong lòng người mà thay đổi :
    Áo chàm đưa buổi phân li
    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay .

    Trong thời khắc chia tay sau một khoảng thời gian dài gắn bó, có biết bao nhiêu kỉ niệm ngọt bùi, sâu nặng, có nhiều điều để nói nhưng khong thể nói đủ, nói trọn vẹn cùng nhau . Vì thế lòng người cũng bâng khuâng, bước chân cũng bồn chồn, và mặc dù người đi không trực tiếp trả lời câu hỏi của người ở lại nhưng hình ảnh áo chàm và hành động cầm tay nhau im lặng đó trả lời thay tất cả, nó chất chứa cả bề sâu cảm xúc của cả người đi và kẻ ở .

    Bao trùm lên tất cả trong tâm trạng của kẻ ở và người đi là nỗi nhớ da diết mêng mang với nhiều sắc thái khác nhau . Người ở lại băn khoăn tự hỏi về lòng thuỷ chung son sắt của người ra đi thì ngược lại người ra đi khẳng định nghĩa tình mãi không phai nhòa trong kí ức . Và cứ thế Việt Bắc hiện lên trong hoài niệm thật sinh động và cụ thể .

    Nhớ đến Việt Bắc là nhớ đến những tháng ngày gian khổ hi sinh : Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù, khó khăn nhiều, gian

    khổ cũng lắm nhưng cán bộ và đồng bào đồng cam cộng khổ, cùng có mối thù sâu nặng với quân xâm lược : Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai . Đồng thời nhớ đến Việt Bắc cũng là nhớ đến những nghĩa tình đồng bào sâu nặng . Người về khiến núi rừng cũng trở nên trống vắng, ngẩn ngơ, các điệp từ mình về, mình đi được nhắc đi nhắc lại một cách tha thiết khiến cho không gian, thời gian Việt Bắc hiện ra từ trong khói sương của hoài niệm , của tâm trạng chất chứa nhớ nhung trở nên rõ nét và rõ tình hơn .Đại từ “ai” phiếm chỉ được sử dụng để như hỏi vào sự trống vắng nay mai của lòng mình . Với thủ pháp đối lập giữa một bên là lau xám với lòng son, giữa hắt hiuđậm đà , người ở nhấn mạnh sắc độ của nỗi nhớ . Người ở lại còn bày tở nõi lo âu, dự cảm : Mình về mình lại nhớ mình . Ba chữ mình được dùng liên tiếp trong một dòng thơ làm cho ý thơ trở nên đa nghĩa một cách thú vị . Mình ở đây là tôi, là chủ thể của nỗi nhớ, và mình cũng có thể là khách thể của nỗi nhớ . Và biết đâu đó đây lại là lới nhắc nhở người đi liệu rồi có còn nhớ chính bản thân mình . Cả người đi và kẻ ở đều được gói gọn trong một chữ mình tha thiết . Và nói gì đi nữa cả tamình đều là những người kháng chiến, đều là cách mạng nên khong tách rời nhau là lẽ dĩ nhiên, là điều dễ hiểu .

    Đáp lại những băn khoăn của người ở lại , người ra đi khẳng định một điều đinh ninh tình nghĩa của mình vẫn còn sâu nặng , dẫu có thế nào thì sự keo sơn, gắn bó bền chặt vẫn không phai nhạt theo thời gian :
    Ta với mình, mình với ta
    Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh .

    Và cụ thể hơn nữa, người ra đi khặng định : Mình đi mình lại nhớ mình và nghĩa tình mãi dạt dào không bao giờ khô cạn : Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu .

    Sự gắn bó sâu nặng với Việt Bắc đã làm cho cảnh Việt Bắc tái hiện trong nỗi nhớ của người về xuôi đã đẹp lại càng trở nên đẹp hơn, càng trở nên lung linh huyền ảo . Nỗi nhớ trong lòng người đi day dứt, thiết tha đến độ cồn cào, ám ảnh như nhớ người yêu . Lấy nỗi nhớ trong tình yêu lứa đôi để đo nỗi nhớ về ngọn nguồn kháng chiến, về nghĩa tình cách mạng, đó là một sáng tạo của hồn thơ Tố Hữu .
    Và cũng chính từ sự gắn bó và nỗi nhớ thương da diết đó, thiên nhiên Việt Bắc mới hiện lên đẹp lộng lẫy như một bức tranh tứ bình về bốn mùa với những nét đặc trưng của Việt Bắc :

    Ta về mình có nhớ ta
    Ta về ta nhớ những hoa cùng người
    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
    Ngày xuân mơ nở trắng rừng
    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
    Ve kêu rừng phách đổ vàng
    Nhớ cô em gái hái măng một mình
    Rừng thu trăng rọi hoà bình
    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung .

    Trong bề bộn của kí ức và hoài niệm , bức tranh sáng đẹp về Việt Bắc hiện lên trong nỗi nhớ của người về xuôi như một dấu son tươi nguyên những kỉ niệm .
    Và trong bức tranh thiên nhiên sống động, bừng sáng đó có sự xuất hiện của con người đang cần mẫn lao động: chuốt từng sợ giang, hái măng một mình giữa rừng vàng . Nhưng có lẽ để lại ấn tượng nhất là tiếng hát ân tình thuỷ chung của con người Việt Bắc . Nó vượt qua trập trùng núi rừng, băng qua mênh mông biển cả của thời gian mà vướng vít bước chân người ra đi . Điệp từ nhớ được lặp lại nhiều lần như khiến cả đoạn thơ bao trùm một tình cảm nhớ thương tha thiết .
    Nhớ về Việt Bắc là nhớ cảnh nhớ người, nhưng quan trọng hơn là nhớ về cuộc kháng chiến, một Việt Bắc trong kháng chiến thật hào hùng .

    Nhớ khi giặc đến giặc lùng
    Rừng cây núi đá ta cùng đánh tây
    Núi giăng thành luỹ sắt dày
    Rừng che bộ đội rừng vây quân thù
    Mênh mông bốn mặt sương mù
    Đất trời ta cả chiến khu một lòng .
    Quân đi điệp điệp trùng trùng
    ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
    Dân quân đỏ đước từng đoàn
    Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay
    Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
    Đèn pha bật sáng như ngày mai lên

    Tiết tấu ngân nga, dìu dặt như lời ru đến đây được tác giả phá vỡ để tạo ra một kết cấu khác phi đối xứng làm giọng thơ trở nên gắt, mạnh, dồn dập như âm hưởng bước hành quân vũ bão . Hệ thống từ vựng mở căng cường độ diễn tả , hình ảnh kì vĩ , ý thơ phóng xa vào viễn cảnh ... tất cả tạo nên một bức tranh sử thi hoành tráng để ca ngợi sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, của nhân dân anh hùng . Miêu tả cảnh hành quân, nhà thơ sử dụng cụm từ “điệp điệp, trùng trùng” thật chính xác . Còn từ ngữ nào để diễn đạt sức mạnh của đoàn binh tràn đầy nhiệt huyết hơn những từ ấy ? Nó vừa diễn tả vẻ đẹp hùng dũng bên ngoài lại vừa miêu tả sức mạnh quật cường bên trong . Trong những con người hiên ngang ấy, họ không chỉ biết làm bạn với khói lửa đạn bom mà họ còn đôi lúc thả hồn theo trăng sao . Sự hài hoà giữa sự dữ dội và vẻ đẹp lãng mạn đã làm nên sự chói sáng trong tâm hồn người lính . Hình ảnh ánh sao đầu núi mặc dù không mới (Đầu súng trăng treo - Đồng chí – Chính Hữu) nhưng vẫn có sức lay động kì lạ cái phần hồn dân tộc trong mỗi con người Việt Nam .

    Và bài thơ khép lại bằng lời khẳng định Việt Bắc mãi là cái nôi, là quê hương của phong trào cách mạng, nơi đặt niềm tin tưởng và hi vọng của người Việt Nam trên khắp mọi miền của Tổ quốc, đặc biệt là những nơi còn u ám quân thù .

    III . KẾT THÚC VẤN ĐỀ .

    Việt Bắc là bài thơ tiêu biểu nhất của hồn thơ Tố Hữu viết về nghĩa tình cách mạng . Bài thơ không chỉ là lời chia tay dạt dào xúc cảm mà còn là lời khẳng định đinh ninh sự thuỷ chung son sắt của những người cách mạng , là khúc ca bất tận của tình nghĩa được viết với giọng điệu vừa trữ tình ngọt ngào , vừa sôi nổi thiết tha, trong sáng

    Nguồn: Sưu tầm
    Nguồn: http://diendankienthuc.net.

    Kết bạn với mình ở nick facebook nhé!

    www.facebook.com/profile.php?id=100005888501320




  8. #6
    Dĩ Vãng 10's Avatar
    Dĩ Vãng 10 is offline Thành viên
    Join Date
    May 2009
    Bài gởi
    1,522
    Thanks
    0
    Thanked 1,003 Times in 504 Posts

    Học tập suôt đời! Phân tích đoạn thơ tả cảnh Việt Bắc ra trận "Những đường Việt Bắc...núi Hồng"

    Phân tích đoạn thơ :

    Những đường Việt Bắc của ta
    …………………………
    Vui lên Việt Bắc , đèo De , núi Hồng



    I.MB

    Tố Hữu ( 1920-2002) được đánh giá là lá cờ đầu của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam .Ông để lại một sự nghiệp văn chương phong phú , giàu giá trị và một phong cách nghệ thuật độc đáo mang tính trữ tình-chính trị sâu sắc , đậm đà tính dân tộc . Rất tiêu biểu cho những tìm tòi sáng tạo không ngừng của nhà thơ là bài thơ Việt Bắc .Có thể nói , tinh hoa của tác phẩm lắng đọng trong mười hai câu thơ diễn tả nỗi nhớ của người về xuôi với cảnh Việt Bắc hùng tráng trong kháng chiến :

    “ Những đường Việt Bắc của ta
    ………………………………..
    Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”.

    II.TB

    1.Giới thiệu chung


    Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác vào tháng 10-1954 , ngay sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi , các cơ quan trung ương Đảng và chính phủ từ Việt Bắc về lại thủ đô Hà Nội . Tố Hữu cũng là một trong số những cán bộ kháng chiến từng sống gắn bó nhiều năm với Việt Bắc , nay từ biệt chiến khu để về xuôi . Bài thơ như được viết trong buổi chia tay lưu luyến đó .

    Hoàn cảnh sáng tác tạo nên một sắc thái tâm trạng đặc biệt , đầy xúc động bâng khuâng . Tố Hữu đã vận dụng thành công thể thơ lục bát truyền thống , sử dụng sáng tạo cặp đại từ nhân xưng mình-ta , lối đối đáp quen thuộc của ca dao , giọng thơ tâm tình ngọt ngào , lời thơ đậm sắc thái dân gian để mở ra bao nỗi niềm nhớ thương , bao kỉ niệm về một thời kháng chiến gian khổ mà anh hùng . Qua đó nghĩa tình gắn bó thắm thiết thuỷ chung của những người kháng chiến với nhân dân, với Việt Bắc , với đất nước được bộc lộ một cách thấm thía , chân thành , cảm động .

    Phần đầu của bài thơ , dưới hình thức đối đáp giữa mình và ta , đã tập trung khắc hoạ một khung cảnh tiễn đưa đầy thương nhớ , bịn rịn , bồn chồn , lưu luyến của kẻ ở người đi . Qua lời đối đáp ân tình , cảnh và người Việt Bắc hiện lên thật đẹp .

    2.Phân tích đoạn thơ

    Và có lẽ đẹp nhất trong nỗi nhớ Việt Bắc là ấn tượng không phai về những con đường kháng chiến :

    Những đường Việt Bắc của ta
    Đêm đêm rầm rập như là đất rung


    Các từ chỉ số nhiều về không gian ( những đường) , về thời gian( đêm đêm ) , về chủ thể sở hữu ( của ta ) kết hợp với biện pháp so sánh , cách điệp phụ âm r đã tái dựng lại một không khí kháng chiến đông vui , nhộn nhịp , mạnh mẽ của một lực lượng , một tập thể lớn , khiến cho đất trời rung chuyển . Không khí của câu thơ khiến ta hồi tưởng lại hào khí Đông A ngút trời “ Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu” ngày nào .

    Sức mạnh ấy trước hết toả ra từ đoàn quân hùng hậu :

    Quân đi điệp điệp trùng trùng
    Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.


    Tác giả sử dụng nghệ thuật tách từ “trùng điệp” thành hai từ láy trùng trùng điệp điệp để ghi lại ấn tượng về những cuộc hành quân không nghỉ của một đoàn quân đông đảo như trải dài vươn rộng trong khắp núi rừng Việt Bắc . Hình ảnh hoán dụ “ ánh sao đầu súng” , “mũ nan” kết hợp với biện pháp nhân hoá “ ánh sao bạn cùng mũ” vừa tả thực vừa gợi ra một vẻ đẹp thơ mộng về đoàn quân kháng chiến . Những hình ảnh này diễn tả sự sát cánh kề vai của mọi lực lượng trên đất nước VN , từ bộ đội chính quy đến dân quân du kích , từ con người đến thiên nhiên sông núi vũ trụ , tất cả hợp thành một khối đoàn kết vững vàng , có sức mạnh vũ bão . Hình ảnh “ ánh sao đầu súng” gợi nhắc đến vẻ đẹp của những chiến sĩ kiên trung mà vẫn lãng mạn yêu đời trong thơ Chính Hữu “ Đêm nay rừng hoang sương muối-Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới-Đầu súng trăng treo”.

    Hình ảnh những người dân công phục vụ kháng chiến cũng được Tố Hữu tô đậm:

    Dân công đỏ đuốc từng đoàn
    Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay


    Những từ chỉ số nhiều “ từng đoàn”, “muôn tàn lửa” kết hợp với các động từ đỏ đuốc , bước chân , nát đá, lửa bay , kết hợp với phép cường điệu “bước chân nát đá” đã ca ngợi lòng nhiệt tình , sự hăng hái , sự đông đảo và sức mạnh khiến thiên nhiên phải khuất phục của những đoàn dân công.Sức mạnh bạt núi san rừng , tinh thần làm việc bất kể đêm ngày của họ khiến cho núi cao cũng phải cúi đầu , đêm tối cũng phải bừng sáng .

    Những đoàn xe vận tải càng làm cho không khí những con đường kháng chiến thêm phấn chấn :

    Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
    Đèn pha bật sáng như ngày mai lên

    Tác giả sử dụng những từ chỉ số nhiều “ nghìn đêm” kết hợp với các từ láy thăm thẳm để khắc hoạ những khó khăn gian nan của kháng chiến nhưng với sức mạnh và lòng quyết tâm , những đoàn xe vận tải vẫn vượt qua đêm tối , đèo cao mây mù , sương dày để vận chuyển vũ khí lương thực tới tiền tuyến . Biện pháp so sánh phóng đại “ đèn pha bật sáng như ngày mai lên” vừa thể hiện khí thế sôi nổi , hào hùng , vừa bộc lộ niềm vui sướng hi vọng , tin tưởng vào tương lai tất thắng .

    Tám câu thơ trên sử dụng nhiều từ láy , nhiều hình ảnh so sánh phóng đại , sử dụng một loạt những từ chỉ số nhiều , những hình ảnh giàu sức gợi , âm điệu và nhịp điệu thơ khoẻ khắn , dồn dập đã tái hiện sự hùng tráng , khí thế sôi nổi của Việt bắc trong kháng chiến . Sự hào hùng ấy biểu hiện rõ trên con đường Vieetj Bắc trải dài bất tận , có sự hoà hợp tiếp nối của mọi lực lượng từ bộ đội du kích dân công đến những đoàn xe vận tải . Con đường đi đến tiền tuyến là con đường đến chiến thắng .

    Tin vui chiến thắng trăm miền
    ……………………………..
    Vui lên VB , đèo De , núi Hồng

    Trong 4 câu thơ , tác giả đã liệt kê một loạt 8 địa danh , kết hợp với điệp từ vui , nhịp thơ nhan , mạnh , dồn dập bộc lộ 1 cách sâu sắc niềm sung sướng về chiến thắng của dân tộc . Chiến thắng ấy trải dài khắp mọi miền Tổ quốc tạo nên ngày hội chiến thắng của toàn thể dân tộc ta .

    Những đoạn thơ tiếp theo , tác giả tiếp tục nhớ về Việt Bắc , đặc biệt là hình ảnh Bác Hồ , vai trò của chiến khu và thể hiện niềm tin tưởng vào tương lai đât nước .

    III . Kết luận .

    Đoạn thơ 12 câu diễn tả khí thế hào hùng sục sôi của Việt Bắc kháng chiến . Qua đó , đoạn thơ bộc lộ niềm tự hào sâu sắc của nhà thơ về về sức mạnh đoàn kết vĩ đại của dan tộc . Đoạn thơ có âm điệu sôi nổi , dồn dập , mạnh mẽ , sử dụng nhiều hình ảnh phóng đại , là đạon thpơ tiêu biểu cho phong cách thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu .

    (Sưu tầm) Nguồn: http://diendankienthuc.net.
    "Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
    Phong vận kỳ oan ngã tự cư"
    :boss:

  9. The Following User Says Thank You to Dĩ Vãng 10 For This Useful Post:


  10. #7
    vodanhtieutot is offline Thành viên
    Join Date
    Feb 2010
    Bài gởi
    1
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Học tập suôt đời!

    cung duoc nhung con nhieu thieu sot Nguồn: http://diendankienthuc.net.

  11. #8
    Dĩ Vãng 10's Avatar
    Dĩ Vãng 10 is offline Thành viên
    Join Date
    May 2009
    Bài gởi
    1,522
    Thanks
    0
    Thanked 1,003 Times in 504 Posts

    Học tập suôt đời! Bình giảng 20 dòng đầu của bài thơ "Việt Bắc"

    Bình giảng 20 dòng đầu của bài thơ "Việt Bắc"


    Tố Hữu là một trong những nhà thơ lớn nhất, tiêu biểu nhất của nền thi ca hiện đại. “Ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng, nhà thơ của lý tởng cộng sản”. Tập thơ “Việt Bắc”, là đỉnh cao của thơ Tố Hữu đồng thời cũng là thành tựu hàng đầu của thơ ca kháng chiến chống Pháp, trong đó bài thơ “Việt Bắc” đợc coi là kết tinh sở trờng nghệ thuật của ngòi bút Tố Hữu. Đó là khúc hát ân tình của ngời kháng chiến đối với quê hương, đất nước với nhân dân cách mạng được thể hiện bằng một nghệ thuật vừa cổ điển vừa hiện đại mà cốt lõi là truyền thống ân nghĩa đạo lý thủy chung của dân tộc.

    Được coi là người sinh ra để thơ hoá những vấn đề chính trị, thơ Tố Hữu luôn bám sát các sự kiện cách mạng. Men theo năm tháng những bài thơ của Tố Hữu, ta có thể tái hiện lại những chặng đường hào hùng của cách mạng Việt Nam. Thơ ông quả là “cuốn biên niên sử bằng thơ” như có nhà nghiên cứu đã đánh giá. “Việt Bắc” không phải là ngoại lệ.

    Tháng 7/1954 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi hoà bình được lập lại, miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng, một trang sử mới mở ra cho đất nước. Tháng 10/1954, cơ quan Trung ương của Đảng và Nhà nước chuyển từ căn cứ địa về thủ đô. Trong thời điểm lịch sử ấy, bài thơ “Việt Bắc” đã ra đời. “Việt Bắc” không còn là tình cảm riêng của Tố Hữu mà còn tiêu biểu cho tình cảm của người kháng chiến miền xuôi đối với chiến khu cách mạng, với đất nước, với nhân dân. Một sự kiện chính trị đã chuyển hoá thành thơ ca theo cách “Tâm tình hoá, là một đặc trng của lối thơ trữ tình chính trị Tố Hữu. 20 câu thơ đầu tiên của “Việt Bắc” thể hiện rất rõ đặc trưng nghệ thuật này.

    Đoạn thơ mở đầu bằng những câu thơ ngọt ngào:

    Mình về mình có nhớ ta
    Mời năm năm ấy thiết tha mặn nồng.

    Câu thơ mở ra cảnh giã biệt, một hoàn cảnh đặc biệt để bộc lộ cảm xúc trữ tình dạt dào. Cảnh giã biệt vẫn quen thuộc trong thơ ca dân gian và cổ điển truyền thống đã được Tố Hữu khéo vận dụng để diễn tả tâm trạng mang tính thời đại. Cuộc chia tay lớn của cán bộ Đảng, Chính phủ với Việt Bắc được thu vào cuộc chia tay của một đôi trai gái: người ở lại rừng núi chiến khu là cô gái Việt Bắc, người về xuôi là anh cán bộ cách mạng. Chuyện chung đã hoá thành chuyện riêng, chuyện cách mạng của dân nước trở thành chuyện tình yêu của lứa đôi, cuộc chia tay đầy bịn rịn lưu luyến giữa những người đã từng gắn bó sâu nặng dài lâu:

    “Mười lăm năm” “thiết tha mặn nồng” được Tố Hữu thể hiện bằng một thể thơ giàu tính dân tộc. Thể lục bát, cách kết cấu đối đáp, sử dụng đại từ nhân xưng “Mình”, “Ta” quen thuộc trong thơ ca dân gian, có khả năng “biểu hiện một cách thuận tiện, phù hợp với điệu hồn chung của cộng đồng người Việt” “Rung lên cái sợi tơ lòng chung của những tấm lòng Việt”. Tất cả những yếu tố đó đã diễn tả thật xúc động tình cảm quyến luyến thiết tha trong một cuộc chia tay đặc biệt: chưa xa đã nhớ, để chia mà không xa, cách mà
    không biệt.

    Mình về mình có nhớ ta” đã là chuyện chung thuỷ, riêng tư. Nhưng đến:

    “Mình về mình có nhớ không
    Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”


    thì không còn là chuyện của tình yêu lứa đôi mà đã là chuyện ân nghĩa thủy chung của đạo lý dân tộc. Câu thơ lục bát điệp hai lần từ “mình” nghe như lối tâm tình thương mến mà day dứt. Băn khoăn lớn nhất của ta và mình trong cuộc chia tay là ân tình thủy chung. Cái độc đáo ở chỗ: một câu hỏi về thời gian, một câu hỏi về không gian. Chỉ một khổ thơ đã gói gọn một thời cách mạng, một trời cách mạng. Tác giả đã chọn tình yêu một đôi trai gái làm một góc nhìn để bao quát toàn cảnh Việt Bắc với “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” Từ thuở cách mạng còn trứng nước đến khi trưởng thành vững vàng đó là điểm nhìn nghệ thuật rất Tố Hữu- người thi sĩ luôn khơi nguồn cảm hứng từ những sự kiện lớn của cách mạng.

    Tiếp theo câu hỏi của ngời ở là tiếng lòng của người đi:

    Tiếng ai tha thiết bên cồn
    Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi
    Áo chàm đưa buổi phân li
    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay


    Người đi đã nghe câu hỏi, lòng tràn đầy bâng khuâng “bồn chồn” một tình cảm thương nhớ “thiết tha”. Tâm trạng lúc chia tay được diễn tả thật đắt qua sự luyến láy của ngôn từ và cả ở nhạc điệu của câu thơ: Hai câu đầu là nhịp 2/2 hối hoàn của lục bát đến đây đã vặn mình chuyển điệu 3/3:

    “Áo chàm đưa/ buổi phân ly
    Cầm tay nhau/ biết nói gì / hôm nay"


    Cái xao xuyến bồi hồi của lòng người đã cồn cào nổi sóng trên câu thơ thể hiện cách thần tình chút ngập ngừng chứa chan tình thương mến, tạo ra một khoảng lặng đầy biểu cảm để chuỗi câu hỏi tiếp theo vang lên dồn dập, tha thiết hơn.

    Mười hai câu lục bát còn lại là lời của người ở, cấu tạo bằng sáu câu hỏi như khơi sâu vào kỷ niệm. Mỗi câu hỏi đều gợi lại những gì tiêu biểu nhất của Việt Bắc qua những hình ảnh chọn lọc gợi cảm: Mưa nguồn, suối lũ, mây mù, Những hình ảnh chọn lọc vừa chân thực vừa thơ mộng; “Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son” Những câu thơ có khả năng diễn biến những khái niệm trừu tợng thành hình ảnh đầy cảm giác sống động cụ thể “mối thù nặng vai”. Nghệ thuật nhân hoá cũng tạo nên sự sống động cho hình ảnh thơ:

    “Mình về rừng núi nhớ ai
    Trám bùi để rụng, măng mai để già”

    Tình cảm của ngời ở đối với ngời đi xem ra đợc thể hiện sâu kín hơn cả trong câu thơ này, chỉ 14 chữ mà chứa đựng biết bao quyến luyến nhớ thương: Người đi rồi cả một miền rừng trở nên hoang vắng, trám không người nhặt, măng không ai hái, cả núi rừng cũng mong nhớ đến thẫn thờ. Như một thông lệ trong cuộc chia tay giữa những người thân thiết, người ta thường đẩy thời gian về quá khứ để chưa xa đã nhớ, chưa biệt đã thương. Để trên nền xúc cảm này, dòng hồi tởng những kỉ niệm thân thương ùa về mãnh liệt.

    “Mình đi, mình có nhớ mình
    Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa”

    Nhìn thoáng qua, tổ chức các câu thơ đều lặp lại ở phép láy đầu 6 câu: Mình đi, mình về. “Đi”, “Về” vốn ngợc chiều trái hướng, song ở đây lại đồng nhất một phương .

    Phải chăng niềm tin giản dị mà rất thực của cả người đi và người ở đã thổi vào câu chữ, làm nên chút choáng ngợp bối rối của ngôn từ, thể hiện mạch ngầm văn bản trong chiều sâu thơ ca: Ra đi để hẹn về. Việt Bắc đã trở thành quê hương thứ hai của ngời cán bộ kháng chiến.

    Những kỷ niệm được gợi nhớ đều là những kỷ niệm của cuộc sống chung, tình cán bộ với nhân dân chia ngọt sẻ bùi, chung gian lao, chung mối thù Nếu không khéo rất dễ sa vào cái gọi là “liệt kê kỉ niệm” câu thơ sẽ trôi tuột đi, không thể lưu đọng lại trong lòng người đọc. Cái làm nên chất thơ của bài “Việt Bắc” cũng như của đoạn thơ này chính là nhạc điệu. Chính nhạc điệu đã làm cho các kỷ niệm trở nên ngân nga, trầm bổng réo rắt, thấm sâu vào tâm tư. Những yếu tố làm nên chất nhạc kỳ diệu ấy không chỉ ở những câu lục bát rất chuẩn về thanh luật mà còn ở nghệ thuật tiểu đối được sử dụng với tần số cao trong các câu thơ. Nó không chỉ có khả năng biểu đạt rất xúc động nỗi lòng sâu kín bồi hồi của người đi kẻ ở, mà còn tạo ra sự tương xứng về cấu trúc, vẻ đẹp nhịp nhàng của ngôn từ.

    Mưa nguồn suối lũ / những mây cùng mù
    Miếng cơm / mối thù
    Trám / măng
    Hắt / son
    Nhớ / mình
    Tân / đa


    Những hình ảnh thơ đã thực sự cất lên chất thơ nhờ nhạc điệu đầy quyến luyến, trầm bổng, ngân nga qua những câu thơ sóng đôi lối đối xứng tiểu đối, nó mang vẻ đẹp cổ điển uyên bác. Đặc biệt câu hỏi cuối đoạn thơ có thể tách riêng ra bởi sự thâm thúy, hàm súc:

    “Mình đi mình có nhớ mình
    Tân Trào Hồng Thái mái đình cây đa”


    Đại từ “mình”, “ta” vốn được sử dụng trong đối đáp thơ ca dân gian nay được Tố Hữu sử dụng đầy biến ảo: Khi mình là Ta, khi “ta” là “mình”, cái ngầm ý hai ta là một đã rõ. Nhng ở đây một câu lục mà tới ba lần lặp lại chữ mình: “Mình đi, mình có” là chỉ ngời về, “nhớ mình” là chỉ người ở. Câu hỏi đầy ý nhị mà sâu kín: Mình quên “ta” cũng là quên chính “mình” đó. Cũng như ở phần sau, Tố Hữu lại nhấn theo lối bồi thấn trong câu thơ trả lời khẳng định sắt son.

    “Mình đi mình lại nhớ mình
    Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”

    Nhà thơ đã khai thác rất đắt chữ “Mình” trong tiếng Việt. “Mình” vừa là bản thân vừa là ta, “Mình” cũng là ngời thân thiết có thể xem như chính mình vậy. Đại từ nhân xưng được sử dụng vừa thống nhất vừa biến hoá khiến “Việt Bắc” cất lên như tiếng lòng đồng vọng bản hoà âm tâm hồn của kẻ ở người đi.

    Sự đổi chỗ trong tổ chức câu thơ: “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào” được viết thành: “Tân trào Hồng Thái mái đình cây đa” chứng tỏ tên riêng và danh từ chung đều đã đồng nhất hoàn toàn về ý nghĩa -Việt Bắc quê hương cách mạng. Nỗi nhớ về chiến khu Việt Bắc “Tân Trào, Hồng Thái”, đã chuyển hoá thành nỗi nhớ quê hương “Mái đình cây đa” những hình ảnh đã đi vào tâm thức người Việt từ ngàn đời. “Trong thơ Tố Hữu, cái riêng, cái chung như không còn ranh giới, cái cũ cái mới lồng vào nhau, (Nguyễn Văn Hạnh) mà đây là một trờng hợp điển hình.

    Việt Bắc” là bài ca tâm tình, ngọt ngào đằm thắm rất tiêu biểu cho hồn thơ, cho phong cách thơ của Tố Hữu. Vẫn là tiếng nói của tình cảm tình yêu nhưng là tình yêu đối với quê hương đất nước, đối với cách mạng đối với nhân dân.

    Trong câu chuyện với một nhà nghiên cứu văn học người Pháp Tố Hữu tâm sự rằng: “mình phải lòng đất nước và nhân dân của mình. Và đã nói về đất nước về nhân dân như nói về người mình yêu”. Cho nên tình yêu biến thành tình nghĩa “Việt Bắc” đã trở thành tiếng hát ân tình chung của những người kháng chiến, của cả dân tộc trong một thời điểm lịch sử đáng ghi nhớ.

    Có thể khẳng định rằng đoạn thơ trên là những câu thơ hay nhất của bài thơ “Việt Bắc”.

    (Sưu tầm) Nguồn: http://diendankienthuc.net.
    "Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
    Phong vận kỳ oan ngã tự cư"
    :boss:

  12. The Following User Says Thank You to Dĩ Vãng 10 For This Useful Post:


  13. #9
    Thandieu2's Avatar
    Thandieu2 is offline Trưởng phòng
    Join Date
    Aug 2009
    Đến từ
    LIÊN HỆ 0984 084 911
    Bài gởi
    4,255
    Thanks
    1,025
    Thanked 1,482 Times in 849 Posts
    Blog Entries
    1

    Học tập suôt đời! Việt Bắc - Tố Hữu

    VIỆT BẮC
    - Tố Hữu -


    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN:

    Câu 1: Trình bày những nét chính về nhà thơ Tố Hữu

    Tố Hữu (1920 – 2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở Thừa Thiên Huế. Gia đình có sở thích thơ ca dân gian đã tạo nên những mầm mống thi sĩ ở Tố Hữu ngay từ lúc còn bé. Quê hương xứ Huế đẹp và thơ cũng góp phần quan trọng vào sự hình thành hồn thơ Tố Hữu. Và quan trọng nhất là quá trình hoạt động, gắn bó chặt chẽ với cách mạng, từ trước Cách mạng tháng Tám, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mĩ cho đến năm 1986.

    Ở Tố Hữu, con người chính trị và con người nhà thơ thống nhất làm một, sự nghiệp thơ gắn liền với sự nghiệp cách mạng, trở thành một bộ phận của sự nghiệp cách mạng.

    Câu 2
    : Trình bày ngắn gọn sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu.

    Bảy tập thơ, năm chặng đường thơ: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và Hoa, Một tiếng đờn, Ta với ta. Những chặng đường thơ Tố Hữu gắn bó với những chặng đường cách mạng của bản thân nhà thơ, với những giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam.

    - Từ ấy (1937 – 1946): tập thơ đầu tay đánh dấu bước trưởng thành của người thanh niên quyết tâm đi theo ngọn cờ của Đảng. Gồm 3 phần: Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng.

    - Việt Bắc (1946 – 1954): tiếng ca hùng tráng thiết tha về cuộc kháng chiến chống Pháp và những con người kháng chiến.

    - Gió lộng (1955 – 1961): cảm hứng về cuộc sống tràn ngập niềm vui trên miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội và tình cảm thiết tha sâu nặng với miền Nam.

    - Ra trận (1962 – 1971), Máu và Hoa (1972 – 1977): khúc ca ra trận của cả dân tộc trong kháng chiến chống Mĩ.

    - Một tiếng đờn (1992), Ta với ta (1999): bước chuyển biến mới trong thơ Tố Hữu, tìm đến những chiêm nghiệm về con người và cuộc đời, nhưng vẫn kiên định niềm tin vào lý tưởng.

    Câu 3: Những đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu.

    - Thơ trữ tình chính trị: chủ yếu khai thác cảm hứng từ đời sống chính trị của đất nước, từ hoạt động cách mạng và tình cảm chính trị của bản thân, cụ thể là biểu hiện những lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn.

    - Khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn: tập trung thể hiện những vấn đề cốt yếu của đời sống cách mạng, nhân vật trữ tình là những người đại diện cho những phẩm chất của giai cấp, dân tộc. Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu có sự vận động từ cái tôi – chiến sĩ (Từ ấy) đến cái tôi - công dân (Việt Bắc) và về sau là cái tôi nhân danh dân tộc, cách mạng. Khuynh hướng sử thi kết hợp với cảm hứng lãng mạn, thơ Tố Hữu hướng vào tương lai, khơi dậy niềm vui, lòng tin tưởng, niềm say mê với con đường cách mạng.

    - Giọng điệu tâm tình ngọt ngào: được thừa hưởng từ điệu tâm hồn con người xứ Huế và xuất phát từ quan niệm của nhà thơ: “Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, đồng chí”.

    - Đậm đà tính dân tộc trong cả nội dung và nghệ thuật biểu hiện: sử dụng các thể thơ truyền thống, những lối nói so sánh, ví von, hình ảnh ước lệ tượng trưng và giàu tính nhạc trong lời thơ.

    Câu 4: Hoàn cảnh ra đời của bài thơ Việt Bắc.

    Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết (7/1954). Hoà bình lập lại, miền Bắc được giải phóng. Tháng 10/1954, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc.

    Câu 5
    : Trình bày những nội dung chính của đoạn trích Việt Bắc.

    Việt Bắc là khúc hùng ca và cũng là khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Đoạn trích gồm 2 phần:
    - 20 câu đầu: lời ướm hỏi ân tình của Việt Bắc với người cán bộ kháng chiến.
    - Đoạn còn lại: hình ảnh Việt Bắc trong hoài niệm của người cán bộ kháng chiến. Trong hoài niệm bao trùm 3 mảng hiện thực thống nhất không thể tách rời, đó là:

    a) Nỗi nhớ thiên nhiên Việt Bắc: Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với những vẻ đẹp đa dạng trong những không gian và thời gian khác nhau, trong sương sớm, nắng chiều, trăng khuya, trong thời tiết bốn mùa thay đổi. Hình ảnh thiên nhiên luôn gắn với con người làm cho cảnh bớt hoang sơ, hiu hắt: Ta về mình có nhớ ta…tiếng hát ân tình thuỷ chung.

    b) Nhớ cuộc sống, con người sâu nặng nghĩa tình: Cuộc sống, sinh hoạt của người dân Việt Bắc còn nghèo khó, cơ cực nhưng giàu tình nghĩa: Ta đi ta nhớ…chăn sui đắp cùng.

    c) Nhớ khung cảnh Việt Bắc kháng chiến: bức tranh hoành tráng với những hoạt động tấp nập, sôi nổi của quân dân Việt Bắc, với hàng loạt những chiến công dồn dập (từ Nhớ khi giặc đến giặc lùng cho đến hết).

    Câu 6
    : Nêu chủ đề và những nét đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích Việt Bắc.
    Việt Bắc là khúc hùng ca và cũng là khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Thể thơ lục bát, kiểu kết cấu đối đáp (ca dao, dân ca) sử dụng cặp đại từ nhân xưng mình - ta, các biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ, tượng trưng..) quen thuộc với cách cảm, cách nghĩ của quần chúng được dùng nhuần nhuyễn, ngôn ngữ đậm sắc thái dân gian – tất cả đã góp phần khắc sâu lời nhắn nhủ của Tố Hữu: Hãy nhớ mãi và phát huy truyền thống anh hùng bất khuất, ân nghĩa thuỷ chung của cách mạng và con người Việt Nam.

    II.
    LÀM VĂN:


    Đề 1: Cảm nhận của anh/chị về cảnh sắc thiên nhiên và con người Việt Bắc trong đoạn thơ sau:
    Ta về mình có nhớ ta
    ..........................
    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

    DÀN BÀI
    (Gợi ý)
    Mở bài:
    - Giới thiệu vài nét về Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc.
    - Giới thiệu đoạn thơ (chép lại).

    Thân bài:

    Qua nỗi nhớ hiện lên bức tranh tứ bình về Việt Bắc trong bốn mùa với vẻ đẹp nhiều sắc màu của các loài hoa rừng hoà hợp với bóng dáng người lao động Việt Bắc.
    - Câu 1-2: nêu khái quát về vẻ đẹp của VB qua hình ảnh “những hoa cùng người”, vẻ đẹp hài hoà, gắn bó giữa thiên nhiên và con người.
    - Câu 3-4: Bức tranh mùa đông với nền cảnh là màu xanh của núi rừng bạt ngàn, nổi bật lên là màu đỏ tươi của hoa chuối. Không gian của cảnh mở rộng hơn theo chiều cao với hình ảnh ánh nắng phản chiếu lấp lánh trên “dao gài thắt lưng” của người lao động trên đèo cao. Cảnh mùa đông ở đây không lạnh lẽo, tàn lụi mà đầy ánh sáng, ấm áp.
    - Câu 5-6: Bức tranh mùa xuân mang vẻ đẹp thanh khiết với “mơ nở trắng rừng”.
    - Câu 7-8: Bức tranh mùa hè rộn rã, đầy sức sống với sự phối hợp cả màu sắc và âm thanh đặc trưng của mùa hè “ve kêu” và “rừng phách đổ vàng”.
    - Câu 9-10: Bức tranh mùa thu thơ mộng với ánh trăng chiếu sáng một khung cảnh yên bình ngân vang tiếng hát.
    Thấp thoáng trong từng cảnh là bóng dáng người VB cần cù, chăm chỉ, miệt mài lao động (người đan nón chuốt từng sợi giang, cô em gái hái măng một mình).
    - Đánh giá chung:
    · Sự quan sát tinh tế và tình cảm yêu mến thiết tha đã giúp nhà thơ tái hiện và tạo dựng được những vẻ đẹp khác nhau của VB trong những thời khắc khác nhau.
    · Nghệ thuật: thể thơ lục bát, kết cấu đối đáp, âm điệu ngọt ngào, sử dụng điệp từ “nhớ”, đại từ nhân xưng “mình – ta”; tả thiên nhiên và người hoà hợp gắn bó trong cấu trúc cân đối về hình ảnh, màu sắc (câu 6: cảnh/câu 8: người).

    Kết bài:

    Đoạn thơ hay và tiêu biểu cho bài thơ VB của Tố Hữu, giúp ta cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên VB và càng yêu mến “quê hương cách mạng”.
    Lưu ý: Học sinh có thể phân tích cảnh và người trong từng cặp câu lục bát hoặc có những cách làm bài khác nhau.


    Đề 2
    : Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
    Những đường Việt Bắc của ta
    ...................................
    Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng
    DÀN BÀI: (Gợi ý)

    Mở bài:
    - Việt Bắc là một bài thơ hay của Tố Hữu và là một thành tựu xuất sắc của nền thơ kháng chiến chống Pháp 1945-1954.
    - Nội dung cảm xúc của bài thơ là nỗi nhớ - một nỗi nhớ hướng tới nhiều đối tượng cụ thể vừa khác biệt vừa thống nhất với nhau. Ở đoạn thơ sau, nỗi nhớ như xoáy vào những ngày tháng hào hùng của cuộc kháng chiến. (….Trích dẫn)

    Thân bài:


    a. Tám câu thơ đầu:


    - Nhà thơ vẽ lại sống động hình ảnh những đêm Việt Bắc chuyển quân trong mùa chiến dịch:

    + Chỉ vài nét phát hoạ khung cảnh hùng tráng của cuộc kháng chiến ở Việt Bắc, Tố Hữu đã cho người đọc cảm nhận được khí thế hào hùng, mạnh mẽ của khối đoàn kết toàn dân, toàn diện, sự gắn bó giữa thiên nhiên với con người.
    + Từ “những” đặt ở đầu đoạn thơ mở ra bức tranh hoành tráng một không gian rộng lớn trong những ngày mớ chiến dịch Điện Biên Phủ.
    + Từ “của ta” thể hiện ý thức làm của những người tham gia kháng chiến đối với đất nước của mình. Những nẻo đường chiến khu Việt Bắc giờ đây là “của ta”.
    + Đêm đêm, những bước chân hành quân “rầm rập”, làm rung chuyển cả đất trời, bước chân những người khổng lồ đội trời đạp đất làm nên những kì tích anh hùng.
    - Khí thế bừng bừng của quân ta được miêu tả hết sức sinh động:
    + Các từ láy có gía trị tượng thanh, tượng hình: “rầm rập”, “điệp điệp”, “trùng trùng”, biện pháp so sánh “ như là đất rung” diễn tả được không khí hồ hỡi, sôi sục trong những ngày hành quân ra mặt trận làm nổi bật được sức mạnh cuộn như thác lũ của quân ta.
    + Đoàn quân ra trận đông đảo, người người lớp lớp, như sóng cuộn “điệp điệp trùng trùng”.“ánh sáng đầu súng”, có “đỏ đuốc”, có “muôn tàn lửa bay”, có sức mạnh của bước chân “nát đá”.
    + Câu thơ “Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” là một tứ thơ sáng tạo, vừa hiện thực vừa mộng ảo. Ánh sao đêm phản chiếu vào nòng súng thép. Ánh sao của bầu trời Việt Bắc, ánh sao lí tưởng chiến đấu vì độc lập, tự do như soi sáng nẻo đường hành quân ra trận của anh bộ đội.
    + Tuy miêu tả cảnh ban đêm nhưng bức tranh thơ giàu chi tiết nói về ánh sáng: Màu đỏ của “đuốc”, của “muôn tàn lửa bay” gợi một cảnh tượng rực rỡ, hừng hực khí thế hào hùng trong những đêm tiến quân ra chiến trường Điện Biên Phủ.
    + Cách nói thậm xưng “bước chân nát đá” diễn tả sức mạnh đạp bằng mọi gian khó của đoàn người ra hoả tuyến. Bước chân của họ là bước chân của những người đội đá, vá trời, rung chuyển càn khôn, đạp bằng gian nguy làm nên chiến thắng diệu kì, khiến thế giới phải khâm phục.

    - Cảm hứng sử thi lãng mạn, hào hùng, ý thơ phóng xa vào viễn cảnh tương lai tươi sáng
    :
    + Nhìn ánh đèn pha của đoàn xe cơ giới xuyên màn đêm của núi rừng Việt Bắc, tác giả so sánh như tương lai tươi sáng đất nước. Đó là tinh thần lạc quan, phấn khởi, tin tưởng ngày chiến thắng đã gần kề.
    + Nhà thơ dùng thủ pháp đối lập để diễn tả cản hứng tự hào, lạc quan đó.Dù hôm nay và cả nghìn đêm đã qua, dân tộc phải chìm trong thăm thẳm của khói lửa đau thương; tăm tối mịt mùa của chiến tranh, của đói nghèo thì hãy tin rằng ngày mai, ngày mai chúng ta sẽ chiến thắng. Cuộc đời sẽ rộng mở, tươi sáng như ánh đèn pha đang chiếu vào bóng tối, sương mù, mở đường cho xe ta ra mặt trận. Chúng ta sẽ độc lập, tự do, no ấm.

    b.Bốn câu thơ cuối: Các địa danh “chiến thắng trăm miền” trên đất nước thân yêu

    - Liệt kê các địa danh chiên thắng: Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Đồng Tháp, An Khê, đèo De, núi Hồng. Mỗi địa danh ghi lại một chiến công.
    - Niềm vui chiến thắng dồn dập, giòn giã: “Tin vui chiến thắng…vui về…về từ…vui lên”. Việt Bắc là đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp nên tin vui thắng trận khắp mọi miền đất nước báo cáo về đó, rồi từ đó toả đi trăm ngã.
    - Điệp từ “vui” như tiếng mừng thắng trận cất lên trong lòng hàng triệu con người từ Bắc chí Nam.

    Kết bài:

    - Đoạn thơ làm sống lại không khí hào hùng của một thời lịch sử không thể nào quên.
    - Việt Bắc trở thành biểu tượng chung cho sức mạnh kháng chiến, cho linh hồn cách mạng, cho ý chí của toàn dân trong cuộc trường chinh vĩ đại.
    - Đoạn thơ giàu chất “sử ca” thể hiện rõ khả năng tạo được một bức tranh hoành tráng về lịch sử dân tộc, gợi niềm tự hào về truyền thống yêu nước, anh hùng của dân tộc.


    Đề 3
    : Phân tích tính dân tộc đậm đà của đoạn trích Việt Bắc.
    DÀN BÀI (Gợi ý)

    Mở bài:


    - Giới thiệu vài nét chính về Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc.
    - Nêu vấn đề cần nghị luận: tính dân tộc đậm đà của bài thơ.

    Thân bài:

    Tính dân tộc của bài thơ thể hiện ở các mặt:

    - Nội dung: phản ánh hiện thực kháng chiến và con người kháng chiến.
    · Cuộc sống kháng chiến gian khổ mà đầy lạc quan: Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo, Nghìn đêm thăm thẳm sương dày, Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.
    · Con người kháng chiến cơ cực mà đầy tình nghĩa: Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi, Thương nhau chia củ sắn lùi, Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng.

    - Nghệ thuật:
    · Bài thơ có kết cấu theo thể thơ lục bát quen thuộc.
    · Kết cấu đối đáp theo lối giao duyên rất hợp với khung cảnh chia tay giữa kẻ ở người đi: Mình về mình có nhớ ta…Ta với mình mình với ta.
    · Cách xưng hô mình – ta mang phong vị ca dao, dân ca.
    · Những hình ảnh ước lệ quen thuộc: mái đình, cây đa, mưa nguồn suối lũ.
    · Giọng điệu tâm tình tha thiết, giàu cảm xúc: Mình về mình có nhớ ta, Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng, Tiếng ai tha thiết…biết nói gì hôm nay…Ta với mình mình với ta…

    Kết bài:

    Khẳng định vấn đề: Bài thơ VB đậm đà tính dân tộc, một đặc điểm nổi bật của phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu, góp phần tạo nên thành công của tác phẩm.
    Lưu ý: HS cần chọn những câu thơ, những chi tiết tiêu biểu của đoạn trích đã học để phân tích làm rõ từng mặt của tính dân tộc trong thơ Tố Hữu.


    Đề 4
    : Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu:
    Ta đi ta nhớ những ngày
    ……………………...
    Chày đêm nệm cối đều đều suối xa.

    Mở bài
    :
    - Giới thiệu vài nét chính về Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc.
    - Nêu vấn đề cần nghị luận : Nỗi nhớ của người ra đi (người cán bộ kháng chiến) về những kỉ niệm xúc động về một thời "đắng cay ngọt bùi" trong cuộc sống sinh hoạt và kháng chiến nơi chiến khu Việt Bắc.

    Thân bài
    :
    - Hai câu đầu: Lời giới thiệu và cảm nhận chung về quãng đời gian khổ, thiếu thốn mà sâu đậm nghĩa tình. "Mình" và "ta" đã cùng nhau san sẻ biết bao cay đắng ngọt bùi.
    - Bốn câu thơ tiếp theo: Nỗi nhớ về cuộc sống và con người Việt Bắc.
    + Nỗi nhớ hướng về những kỉ niệm ấm áp nghĩa tình quân dân. Cao hơn cả nỗi nhớ là "niềm thương". Cuộc sống kháng chiến tuy thiếu thốn trăm bề nhưng vượt trên tất cả, những người cán bộ, chiến sĩ luôn cảm nhận được sự ấm áp từ tình cảm đùm bọc, sẻ chia của đồng bào Việt Bắc. Họ cùng nhau "chia ... sẻ nửa ... đắp cùng".
    + Nỗi nhớ về hình ảnh ấn tượng: "người mẹ nắng cháy lưng". Đó là hình ảnh đẹp, tiêu biểu cho vẻ đẹp của bà mẹ Việt Bắc (cũng như bao bà mẹ Việt Nam): chịu thương chịu khó, thương yêu con, đùm bọc cho cán bộ chiến sĩ.
    - Bốn câu thơ tiếp: Nỗi nhớ về cuộc sống, sinh hoạt, công tác trong những ngày kháng chiến.
    + Những hình ảnh về cuộc sống kháng chiến đơn sơ, bình dị, gần gũi vừa gian nan, vất vả vừa tràn đầy tinh thần lạc quan.
    + Tràn ngập câu thơ là những âm thanh tươi vui, rộn rã sự sống (tiếng lớp học i tờ, tiếng ca hát vang khắp núi đèo) và ánh sáng (những bó đuốc sáng giữa đồng khuya trong buổi liên hoan). Đó là sự lạc quan, tin tưởng vào cách mạng, vào kháng chiến, vào tương lai tươi sáng của dân tộc.
    - Hai câu thơ cuối: Nỗi nhớ lắng động trong những ấn tượng về cuộc sống nơi núi rừng chiến khu Việt Bắc, để lại sự bâng khuâng, da diết khôn nguôi trong lòng người ra đi.
    - Nghệ thuật: thể thơ lục bát với giọng điệu ngọt ngào, tha thiết; cặp đại từ mình- ta, phép điệp giàu tính truyền thống; ngôn từ giản dị, mộc mạc, giàu hình ảnh,giàu sức gợi cảm.

    Kết bài:

    Đánh giá chung về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ.


    Đề 5: Phân tích cái hay, cái đẹp trong đoạn thơ sau:
    Mình đi có nhớ những ngày
    ……………………..
    Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son.
    Mở bài:

    - Giới thiệu vài nét chính về Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc.
    - Giới thiệu vấn đề cần nghị luận : Bằng lời hát đối đáp giao duyên trong ca dao, dân ca, tác giả bộc lộ tình cảm lớn của thời đại, ân tình cách mạng và ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong 9 năm khang chiến đầy gian khổ ở Việt Bắc. Đoạn thơ trên bộc lộ tâm trạng của người ở lại Việt Bắc thương nhớ và sắt son với người cán bộ kháng chiến về xuôi.

    Thân bài:

    - Thể hiện nghĩa tình gắn bó sâu nặng của nhân Việt Bắc với cán bộ kháng chiến.
    + Sử dụng câu hỏi tu từ bộc lộ tấm lòng quyến luyến, bịn rịn, đồng thời gợi lên những kỷ niệm gắn bó sâu sắc trong suốt 9 năm kháng chiến gian khổ ở núi rừng Việt Bắc.
    + Họ đã cùng nhau chịu đựng sẻ chia gian khổ “miếng cơm chấm muối” và cùng chung căm thù cao độ “mối thù nặng vai”.
    - Thể hiện bức tranh thiên nhiên Việt Bắc với những hình ảnh tiêu biểu: rừng, núi, lau xám....
    + Sử dụng nghệ thuật ẩn dụ dụ “ rừng núi nhớ ai” và “hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”, cũng như hình thức điệp từ “nhớ” để bộc lộ tấm lòng thủy chung son sắc của người ở lại Việt Bắc đối với người cán bộ kháng chiến về xuôi.
    - Nghệ thuật:
    + Câu thơ lục bát đậm đà tính dân tộc.
    + Giọng điệu tâm tình ngọt ngào, tha thiết.
    + Xây dựng nhiều hình ảnh chọn lọc, có sức gợi cảm
    => Nhà thơ đã bộc lộ tấm lòng nhớ thương và thủy chung của đồng bào dân tộc Việt Bắc với người cán bộ kháng chiến về xuôi, với cách mạng, với đảng và Bác Hồ.

    Kết bài
    :
    Đánh giá chung về nội dung và nghệ thuật đoạn thơ.


    Đề 6
    : Phân tích đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu:

    Nhớ khi giặc đến giặc lùng
    ...................................
    Nhớ từ Cao Lạng, nhớ sang Nhị Hà...

    Mở bài:

    - Giới thiệu vài nét chính về Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc.
    - Giới thiệu vấn đề cần nghị luận (chú ý xuất xứ và nội dung chính).

    Thân bài:

    - Nỗi nhớ của cán bộ kháng chiến:
    + Về thiên nhiên và con người Việt Bắc.
    + Về những địa danh của Việt Bắc gắn liền với chiến công vang dội của quân dân ta trong kháng chiến chống Pháp.
    - Niềm tự hào của tác giả về Việt Bắc anh dũng, kiên cường.
    - Nghệ thuật:
    + Thể thơ lục bát, âm điệu tha thiết, sâu lắng.
    + Hình ảnh, từ ngữ chọn lọc, các phép tu từ: nhân hoá, liệt kê, điệp từ.

    Kết bài:

    Đánh giá chung về nội dung và nghệ thuật đoạn thơ.

    SƯU TẦM
    Nguồn: http://diendankienthuc.net.

    Kết bạn với mình ở nick facebook nhé!

    www.facebook.com/profile.php?id=100005888501320




Chủ đề giống nhau

  1. Trả lời: 3
    Bài mới gởi: 14-07-11, 10:33 PM
  2. Trả lời: 2
    Bài mới gởi: 26-04-10, 11:17 PM

Tags for this Thread

Bookmarks

Quuyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •