K. Marx và F. Engels
TOÀN TẬP, Tập 1 (1842-1844)
Nxb. Chính trị quốc gia, 1995
--- o0o ---
GÓP PHẦN PHÊ PHÁN TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀNCỦA HEGEL
Karl Marx
I. BẢN THÂN CHẾ ĐỘ NHÀ NƯỚC BÊN TRONG
§272. "Chế độ nhà nước là hợp lý chừng nào nhà nước phân biệt và quy định trong bản thân mình hoạt động của mình cho phù hợp với bản tính của khái niệm: cụ thể là sao cho mỗi quyền lực trong số những quyền lực đó tự nó là một tổng thể, do chỗ nó thật sự chứa đựng trong nó và cũng bao gồm trong nó cả những yếu tố khác nữa, và vì những yếu tố này biểu hiện sự khác biệt của khái niệm, nên chúng vẫn còn lại nguyên vẹn trong tính ý tưởng của nhà nước, và chỉ hợp thành một tổng thể riêng biệt".
Do đó, chế độ nhà nước là hợp lý, chừng nào những yếu tố của nó có thể được hòa tan trong những yếu tố lô-gích trừu tượng. Nhà nước cần phân biệt và quy định hoạt động của mình, không phải căn cứ theo bản tính đặc trưng của mình, mà phải căn cứ theo bản tính của khái niệm là động lực được thần bí hóa vốn có của tư tưởng trừu tượng. Do đó, lý tính của chế độ nhà nước là lô-gích trừu tượng, chứ không phải là khái niệm nhà nước. Đáng lẽ là khái niệm chế độ nhà nước thì chúng ta có chế độ khái niệm. Không phải tư tưởng thích ứng với bản tính của nhà nước, mà nhà nước thích ứng với tư tưởng có sẵn.
§273. "Nhà nước chính trị phân chia bản thân như vậy" (như thế nào?) "thành những khác biệt có tính thực thể sau đây:
a) thành quyền lực quy định và xác lập cái phổ biến - tức là quyền lập pháp:
b) thành quyền lực bắt những lĩnh vực đặc thù và những trường hợp cá biệt phải tuân theo cái phổ biến - tức là quyền hành chính:
c) thành quyền lực của tính chủ quan với tính cách là quyết định cuối cùng của ý chí - tức là quyền lực nhà vua, trong đó những quyền lực bị phân chia được kết hợp lại thành sự thống nhất cá nhân; do đó quyền lực này là đỉnh cao và cơ sở của tổng thể, tức chế độ quân chủ lập hiến".
Chúng ta sẽ trở lại sự phân chia [quyền lực] nói trên, sau khi chúng ta xem xét riêng rẽ những chi tiết của việc trình bày sự phân chia ấy.
§274. Vì tinh thần chỉhiện thựcvới tính cách là cái nhờ đó mà nó nhận thức được bản thân, và nhà nước, với tính cách là tinh thần của dân tộc, đồng thời cũng là pháp luậtquán triệt tất cả những mối quan hệ của nhà nước, là tập quán và ý thức của các cá nhân của nhà nước, cho nên chế độ nhà nước của mỗi dân tộc phụ thuộc nói chung vào tính chất và sự hình thành của ý thức của dân tộc ấy; sự tự do chủ quan của dân tộc và do đó, cả tính hiện thực của chế độ nhà nướcđều nằm trong tự ý thức đó... Vì thế, mỗi dân tộc đều có chế độ nhà nước phù hợp với nó và thích hợp với nó".
Từ những lập luận của Hê-ghen, chỉ toát ra kết luận là: nhà nước nào mà trong đó, tính chất và sự hình thành của tự ý thức" và "chế độ nhà nước" mâu thuẫn với nhau, thì không phải là nhà nước chân chính. Một chế độ nhà nước, nếu là sản phẩm của giai đoạn trước đó của ý thức thì có thể trở thành những xiềng xích nặng nề đối với một tự ý thức phát triển hơn v.v. và v.v., - tất nhiên câu nói đó là một điều tầm thường. Ngược lại, từ đó sẽ chỉ có thể rút ra yêu cầu đòi có một chế độ nhà nước bao hàm trong bản thân nó, với tính cách là cơ sở và nguyên tắc quyết định, cái khả năng tiến lên cùng với sự phát triển của ý thức, tiến lên cùng với con người hiện thực. Nhưng điều này chỉ có thể có với điều kiện là nếu "con người" trở thành nguyên tắc của chế độ nhà nước. Ở đây, Hê-ghen là một kẻ ngụy biện.
a) QUYỀN LỰC CỦA NHÀ VUA
§275. “Bản thân quyền lực của nhà vua bao hàm cả ba yếu tố của một tổng thể [(§272)]: tính phổ biến của chế độ nhà nước và của luật pháp, việc tư vấn với tính cách là mối liên hệ của cái đặc thù với cái phổ biến là yếu tố quyết định cuối cùng với tính cách là sự tự quy định, nơi quay trở về của mọi cái khác và là điểm mở đầu của tính hiện thực của chúng. Sự tự quy định tuyệt đối này tạo thành nguyên tắc phân biệt của quyền lực nhà vua với tính cách là quyền lực nhà vua, nguyên tắc ấy cần được trình bày trước tiên.
Phần đầu của đoạn này chỉ trực tiếp có ý nghĩa là, "tính phổ biến của chế độ nhà nước và của luật pháp” là quyền lực của nhà vua; việc tư vấn, hay là mối quan hệ của cái đặc thù với cái phổ biến, làquyền lực của nhà vua. Quyền lực của nhà vua không đứng bên ngoài tính phổ biến của chế độ nhà nước và của luật pháp, nếu như quyền lực này được hiểu là quyền lực của một ông vua (lập hiến).
Nhưng thật ra Hê-ghen chỉ muốn nói rằng "tính phổ biến của chế độ nhà nước và của luật pháp" là quyền lực của nhà vua theo ý nghĩa là chủ quyền của nhà nước. Nhưng trong trường hợp này,sẽ không đúng nếu biến quyền lực của nhà vua thành chủ thể và bằng cách đó, - vì quyền lực của nhà vua cũng có thể được hiểu là quyền lực của nhân vật đó, - tạo ra cái vẻ bề ngoài hình như nhà vua là chủ nhân của yếu tố đó, là chủ thể của yếu tố đó. Tuy nhiên, trước hết, ta hãy xem Hê-ghen nêu ra cái gì làm "nguyên tắc phân biệt của quyền lực nhà vua với tính cách là quyền lực nhà vua"; nguyên tắc này là "yếu tố quyết định cuối cùng với tính cách là sự tự quy định, nơi quay trở về của mọi cái khác và là điểm mở đầu của tính hiện thực của chúng", - "sự tự quy định tuyệt đối" ấy chính là nguyên tắc đó.
Ở đây, Hê-ghen chỉ nói rằng ý chí hiện thực, tức ý chí cá nhân, là quyền lực của nhà vua. Chẳng hạn, ở §12, ông đã viết:
“Do chỗ ý chí...đem lại cho bản thân hình thức tính đơn nhất,[...] cho nên ý chí là ý chí quyết định, và chỉ với tính cách là ý chí quyết định, ý chí mới là ý chí hiện thực”.
Vì yếu tố “quyết định cuối cùng" hoặc "sự tự quy định tuyệt đối" đó tách khỏi "tính phố biến" của nội dung và tính đặc thù của việc tư vấn, cho nên nó là ý chí hiện thực với tính cách là sự tùy tiện. Điều này có nghĩa là: "Sựtùy tiện là quyền lực của nhà vua", hay "quyền lực của nhà vua là sự tùy tiện”.
§276. "Quy định cơ bản của nhà nước chính trị là sự thống nhất thực thể với tính cách là tính ý tưởng của các yếu tố của nhà nước, trong đó:
a) những quyền lực và những chức năng đặc thù của nhà nước vừa bị hoà tan, vừa được duy trì, - được duy trì chỉ trong chừng mực chúng không có quyền năng độc lập, mà chỉ có cái quyền năng như đã được quy địnhtrong ý niệm tổng thể,và chỉ có cái quyền năng đến mức vậy thôi, vì chúng bắt nguồn từ sức mạnh của tổng thể và là những bộ phận lưu động của tổng thể ấy, coi như cái tự khẳng định giản đơn của chúng.
Bổ sung: “Đối với tính ý tưởng ấy của các yếu tố thì sự việc cũng giống như đối với sự sống trong cơ thể”.
Đương nhiên, Hê-ghen chỉ nói đến ý niệm "những quyền lực đặc thù và những chức năng đặc thù"... Những quyền lực và chức năng này chỉ có cái quyền năng đến mức như đã được quy định trong ý niệm tổng thể; chúng phải bắt nguồn từ "sức mạnh của tổng thể". Cái việc đương nhiên phải như vậy ấy đã được bao hàm trong ý niệm cơ thể. Nhưng lẽ ra thì cần phải giải thích rõ là thực hiện điều đó như thế nào. Vì trong nhà nước, lý tính có ý thức nhất thiết phải thống trị; tính tất yếuthực thể, chỉ có tính chất bên trong và do đó chỉ có tính chất bên ngoài, [sự đan xen vào nhau] ngẫu nhiên của "những quyền lực và chức năng" thì không thể coi là hợp lý được.
§277. β) "Những chức năng đặc thù và lĩnh vực hoạt động đặc thù của nhà nước, là những cái vốn có của nó với tư cách là những yếu tố cơ bản của nó; chúng gắn với những cá nhân được giao phó những chức năng và hoạt động ấy và thực hiện những chức năng và hoạt động ấy, không phải về mặt con người trực tiếp của những cá nhân đó, mà chỉ về mặt những phẩm chất phổ biến và khách quan của họ; vì vậy, những chức năng và hoạt động ấy gắn với con người đặc thù, coi là con người đặc thù, một cách bề ngoài và ngẫu nhiên. Vì vậy, những chức năng và quyền lực nhà nước không thể là sở hữu tư nhân".
Đương nhiên, nếu chức năng và lĩnh vực hoạt động đặc thù có nghĩa là chức năng và lĩnh vực hoạt động của nhà nước, là chức năng nhà nước vàquyền lực nhà nước, thì chúng không thể là sở hữu tư nhân mà chỉ là sở hữu nhà nước. Đấy là lối nói trùng lắp.
Chức năng và lĩnh vực hoạt động của nhà nước gắn với những cá nhân (nhà nước chỉ thông qua sự trung gian của các cá nhân mới phát huy tác dụng), nhưng gắn với cá nhân không coi là cá nhân bằng xương bằng thịt mà coi là cá nhân nhà nước, gắn với phẩm chất nhà nước của cá nhân. Vì thế, thật là nực cười khi Hê-ghen nói rằng chúng "gắn với con người đặc thù, coi là con người đặc thù một cách bề ngoài và ngẫu nhiên". Ngược lại, chúng gắn với con người đặc thù do thông qua vinculum substantiale[1],thông qua cái phẩm chất cơ bản của con người đó. Chúng là hành động tự nhiên của cái phẩm chất cơ bản của con người đó. Điều vô nghĩa này đã xuất hiện ở Hê-ghen vì ông ta xem xét những chức năng và lĩnh vực hoạt động nhà nước một cách trừu tượng, tự bản thân chúng, và xem tính cá thể đặc thù là mặt đối lập của chúng; nhưng ông quên rằng tính cá thể đặc thù là tính cá thể của con người, và những chức năng và những lĩnh vực hoạt động của nhà nước là những chức năng của con người; ông quên rằng bản chất của "con người đặc thù" không phải là râu của nó, không phải là máu của nó, không phải là bản chất thể xác trừu tượng của nó, mà là phẩm chất xã hội của nó, và ông quên rằng những chức năng nhà nước v.v. không phải cái gì khác mà là những phương thức tồn tại và hành động của những phẩm chất xã hội của con người. Vì vậy, hiển nhiên khi những cá nhân là những người mang những chức năng và quyền lực nhà nước thì những cá nhân đó phải được xem xét căn cứ theo phẩm chất xã hội của họ, chứ không phải căn cứ theo phẩm chất tư nhân của họ.
§278. "Hai quy định ấy xác định rằng những chức năng và quyền lực đặc thù của nhà nước không có cơ sở độc lập và vững chắc cả trong bản thân, lẫn trong ý chí đặc thù của các cá nhân, mà có gốc rễ cuối cùng của mình trong sự thống nhất của nhà nước, tức là trong cái tựkhẳng định giản đơncủa chúng, – cả hai quy định ấy tạo thànhchủ quyền của nhà nước".
“Sự chuyên chế, nói chung, có nghĩa là tình trạng vô pháp luật trong đó ý chí đặc thù với tư cách là ý chí đặc thù - dù đó là ý chí của nhà vua hay là ý chí của nhân dân - có hiệu lực của pháp luật, hay nói cho đúng hơn, đem mình thay thế luật pháp; còn chủ quyền, ngược lại, trong trạng thái lập hiến, tức là dưới sự thống trị của pháp chế, lại cấu thành yếu tố tính ý tưởng của những lĩnh vực và chức năng đặc thù. Chính chủ quyền có nghĩa là: mỗi lĩnh vực như vậy, trong những mục đích và phương thức hoạt động của mình, không phải là cái gì độc lập, tự chủ và chỉ đi sâu vào bản thân, mà là một cái bị mục đích của tổng thể quy định và chi phối (mục đích này thường được gọi một cách rất mập mờ là "phúc lợi của nhà nước"). Tính ý tưởng đó đượcbiểu hiện ra bằng hai cách. - "Trong trạng thái hòa bình, những lĩnh vực và chức năng đặc thù tiếp tục đi theo con đường thực hiện những công việc đặc thù của mình [...], và chỉ có tính chất tất yếu không tự giác của tiến trình sự vật là một phần dẫn tới chỗ, tính tư lợi của những lĩnh vực và chức năng ấy chuyển thành việc thúc đẩy chúng duy trì lẫn nhau và duy trì cái tổng thể [...], còn một phần thì sự tác động trực tiếp từ trên xuống không ngừng làm cho chúng quay trở lại con đường thực hiện cái mục đích vốn có của tổng thể, do sự tác động này [...] mà chúng bị hạn chế và buộc phải trực tiếp thúc đẩy sự duy trì đó. - Nhưng trong trạng thái tai họa, dù đó là tai họa bên trong hay là tai họa bên ngoài, chủ quyền vẫn có tác dụng làm cho cái cơ thể khi có trạng thái hòa bình thì tồn tại trong những đặc thù của mình, được tập trung trong cái khái niệm giản đơn là chủ quyền; chủ quyền cũng được ủy nhiệm cứu vớt nhà nước bằng cách hy sinh cái yếu tố nói chung là hợp pháp ấy và khi đó, tính ý tưởngcủa chủ quyền nhà nước đạt tới tính hiện thựcđặc thù của nó".
Như vậy, tính ý tưởng ấy không hình thành nên một hệ thống hợp lý có ý thức. Trong trạng thái hòa bình, nó hoặc giả chỉ xuất hiện như là sự cưỡng chế bên ngoài, do "tác động trực tiếp từ trên xuống" đối với sức mạnh đang thống trị, đối với đời sống tư nhân, hoặc giả xuất hiện như là kết quả mù quáng, vô ý thức của tính tư lợi. Chủ nghĩa ý tưởng này chỉ có được "tính hiện thực đặc thù" của mình trong "trạng thái chiến tranh và tai họa của nhà nước", thành thử ở đây bản chất của nó được biểu hiện ra như là "trạng thái chiến tranh và tai họa" của nhà nước đang thực sự tồn tại, nhưng trạng thái "hòa bình" của nhà nước chính lại là chiến tranh và tai họa do tính tư lợi gây ra.
Vì vậy, chủ quyền, tức chủ nghĩa ý tưởng của nhà nước, chỉ tồn tại với tính cách là tính tất yếu bên trong, - với tính cách là ý niệm. Nhưng Hê-ghen cũng đã thỏa mãn với điều đó, vì đây chỉ nói đến ý niệm. Như vậy chủ quyền một mặt tồn tại chỉ với tính cách là một thực thể vô ý thức, mù quáng. Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu một tính hiện thực khác của chủ quyền.
§279. "Chủ quyền, - thoạt đầu chỉ là tư tưởngphổ biến của tính ý tưởng đó, - chỉ tồn tại với tính cách là tính chủ quan tự tin vào bản thân và với tính cách là mộtsự tự quy định trừu tượng, do đó mà không có cơ sở, của ý chí; sự tự quy định này chi phối quyết định cuối cùng. Đó là cái cá thể trong nhà nước với tính cách là như vậy, và chỉ ở trong cái yếu tố cá thể của mình đó thì bản thân nhà nước mới là một cái đơn nhất. Nhưng trong cái chân lý của nó, tính chủ quan chỉ tồn tại với tính cách là chủ thể, nhân cách chỉ tồn tại với tính cách là con người; và trong một chế độ nhà nước đã phát triển tới tính hợp lý hiện thực mỗi yếu tố trong ba yếu tố của khái niệm đều có hình thức tách riêng, hiện thực cho mình. Vì thế, yếu tố có tác dụng quyết định tuyệt đối ấy của tổng thế không phải là tính cá thể nói chung, mà là một cá nhân, tức nhà vua".
l) "Chủ quyền, - thoạt đầu chỉ là tư tưởng phổ biến của tính ý tưởng đó, - chỉ tồn tại với tính cách là tính chủ quan tự tin vào bản thân[...]. Trong cái chân lý của nó tính chủ quan chỉ tồn tại với tính cách là chủ thể, nhân cáchchỉ tồn tại với tính cách là con người. Trong một chế độ nhà nước đã phát triển tới tính hợp lý hiện thực, mỗi yếu tố trong ba yếu tố của khái niệm đều có hình thức tách riêng, hiện thực cho mình".
2) Chủ quyền "chỉ tồn tại [...] với tính cách là một sự tự quy định trừu tượng, do đó mà không có cơ sở, của ý chí: sự tự quy định này chi phối quyết định cuối cùng. đó là cái cá thể trong nhà nước với tính cách là như vậy, và chỉ ở trong cái yếu tố cá thể của mình đó thì bản thân nhà nước mới là một cáiđơn nhất [...] (và trong một chế độ nhà nước đã phát triển tới tính hợp lý hiện thực, mỗi yếu tố trong ba yếu tố của khái niệm đều có hình thức tách riêng, hiện thực cho mình). Vì thế, yếu tố có tác dụng quyết định tuyệt đối ấy của tổng thể không phải là tính cá thể nói chung, mà là một cá nhân, tứcnhà vua"..
Câu đầu tiên chỉ nói rằng tư tưởng phổ biến của tính ý tưởng đó - mà chúng ta vừa nhìn thấy sự tồn tại đáng buồn của nó - phải là sản phẩm của tự ý thức của những chủ thể và phải tồn tại, với tính cách là sản phẩm như vậy, trong những chủ thể đó và cho những chủ thể đó.
Nếu như Hê-ghen xuất phát từ những chủ thể hiện thực coi là những cơ sở của nhà nước thì ông ta tuyệt nhiên không cần phải bắt buộc nhà nước biến một cách thần bí thành chủ thể. Hê-ghen viết: "Nhưng trong cái chân lý của nó tính chủ quan chỉ tồn tại với tính cách là chủ thể, nhân cách chỉ tồn tại với tính cách là con người". Đó cũng là một sự thần bí hóa. Tính chủ quan là tính quy định của chủ thể, nhân cách là tính quy định của con người. Và đáng lẽ phải xem chúng là những vị ngữ của chủ thể thì Hê-ghen lại biến những vị ngữ ấy thành những cái độc lập và sau đó buộc chúng phải biến một cách thần bí thành chủ thể của những vị ngữ ấy.
Sự tồn tại của những vị ngữ là chủ thể, do đó, chủ thể là sự tồn tại của tính chủ quan v.v.. Hê-ghen biến những vị ngữ, những khách thể thành những cái độc lập; nhưng khi làm như vậy, ông đã tách chúng ra khỏi tính độc lập chân chính của chúng, khỏi chủ thể của chúng. Sau đó, chủ thể chân chính xuất hiện, nhưng với tính cách là kết quả, - trong khi lẽ ra cần phải xuất phát chính từ chủ thể hiện thực và làm cho sự khách thể hóa của nó trở thành đối tượng xem xét của mình. Vì vậy, ở Hê-ghen thực thể thần bí đã trở thành chủ thể hiện thực, còn chủ thể hiện thực lại được hình dung thành một cái khác, thành một yếu tố của thực thể thần bí. Chính vì Hê-ghen không xuất phát từ đối tượng hiện thực (npoceimenon, chủ thể) mà lại xuất phát từ những vị ngữ, từ quy định chung - nhưng vẫn phải có một cái gì đó thể hiện quy định ấy - cho nên ý niệm thần bí cũng trở thành cái thể hiện tính quy định ấy. Ở đây, nhị nguyên luận thể hiện ra chính là ở chỗ: Hê-ghen không coi cái phổ biến là bản chất hiện thực của cái hữu hạn hiện thực, tức là cái đang tồn tại và đã được xác định; nói cách khác, ông không coi cái đang tồn tại [ens] hiện thực là chủ thể thực sự của cái vô hạn.
Ví dụ, chủ quyền, cấu thành bản chất của nhà nước, thoạt đầu ở đây được coi là một cái tồn tại độc lập, thì bị biến thành khách thể. Về sau, lẽ dĩ nhiên cái khách quan đó, đến lượt nó, lại trở thành chủ thể. Nhưng khi đó, chủ thể này được hình dung là sự tự thể hiện của chủ quyền, kỳ thực thì chủ quyền chẳng qua chỉ là tinh thần được khách thể hóa của những chủ thể của nhà nước mà thôi.
Tuy vậy, chúng ta hãy gạt bỏ thiếu sót căn bản này của tiến trình tư tưởng của Hê-ghen và chúng ta hãy nghiên cứu câu thứ nhất của đoạn văn ấy. Dưới hình dạng đã được viết ra, câu này chỉ có ý nghĩa là: chủ quyền, tính ý tưởng của nhà nước, với tính cách là con người, là "chủ thể", thì dĩ nhiên là tồn tại dưới dạng số đông người, số đông chủ thể, vì không một cá nhân riêng lẻ nào lại có thể choán hết toàn bộ lĩnh vực của cá tính, không một chủ thể riêng lẻ nào lại có thể choán hết toàn bộ lĩnh vực của tính chủ quan. Và, nếu như tính ý tưởng của nhà nước được thể hiện trong một người, trong một chủ thể, chứ không thể hiện tự ý thức hiện thực của các công dân, không thể hiện linh hồn chung của cả nước, thì tính ý tưởng ấy sẽ là cái gì? Câu nói ấy của Hê-ghen không chứa đựng điều gì hơn. Nhưng, ta hãy nghiên cứu câu thứ hai là câu gắn liền với câu đó. Ở đây, Hê-ghen cố trình bày nhà vua thành "người trời" chân chính, thành hiện thân chân chính của ý niệm.
"Chủ quyền... chỉtồn tại... với tính cách là mộtsự tự quy định trừu tượng, do đó mà không có cơ sở, của ý chí; tự quy định này chi phối quyết định cuối cùng. Đó là cái cá thể trong nhà nước với tính cách là như vậy, và chỉ ở trong cái yếu tố cá thể của mình đó thì bản thân nhà nước mới là một cái đơn nhất... Trong một chế độ nhà nước đã phát triển tới tính hợp lý hiện thực, mỗi yếu tố trong ba yếu tố của khái niệm đều có hình thức tách riêng, hiện thực cho mình. Vì thế yếu tố có tác dụng quyết định tuyệt đối ấy của tổng thể không phải là tính cá thể nói chung, mà là một cá nhân, tức nhà vua".
Trên kia, chúng ta đã nêu lên câu này. Yếu tố sự quyết định, tức là quyết đoán tùy tiện (vì là vô điều kiện) là quyền lực vua chúa của ý chí nói chung. Ý niệm quyền lực vua chúa, như Hê-ghen phát triển, chẳng qua chỉ là ý niệm sự tùy tiện, sự quyết đoán của ý chí.
Trong khi Hê-ghen hiểu chủ quyền chính là chủ nghĩa ý tưởng của nhà nước, là tính quy định hiện thực của ý niệm đối với các bộ phận của chính thể, thì bây giờ ông lại biến nó thành "một sự tự quy định trừu tượng, do đó mà không có cơ sở của ý chí; sự tựquy định này chi phối quyết định cuối cùng. Đó là cái cá thể trong nhà nước với tính cách là như vậy". Trước kia nói tính chủ quan; bây giờ thì nói tính cá thể. Nhà nước, với tính cách là nhà nước có chủ quyền, phải là một cái thống nhất, là một cá nhân, phải có tính cá thể. Nhà nước là thống nhất, "không chỉ" về mặt ấy, về mặt tính cá thể ấy; tính cá thể chỉ là yếu tố tự nhiên của sự thống nhất của nhà nước, chỉ là tính quy định của mặt tự nhiên của nhà nước. "Vì thế, yếu tố có tác dụng quyết định tuyệt đối ấy không phải là tính cá thể nói chung, mà là một cá nhân, tức nhà vua" . Vì sao ? Vì "trong một chế độ nhà nước đã phát triển tới tính hợp lý hiện thực, “mỗi yếu tố trong ba yếu tố của khái niệm đều có hình thức tách riêng, hiện thực cho mình". "Tính đơn nhất" là một trong những yếu tố khái niệm, nhưng tính đơn nhất còn chưa phải là một cá nhân. Và chế độ nhà nước sẽ là gì, nếu trong đó tính phổ biến, tính đặc thù, tính đơn nhất, mỗi tính đều có "hình thức tách riêng của mình, hiện thực cho mình?” Vì nói chung vấn đề hoàn toàn không phải là một cái trừu tượng nào đó, mà là nhà nước, là xã hội, cho nên thậm chí cũng có thể thừa nhận sự phân loại của Hê-ghen. Từ đó, sẽ phải rút ra kết luận gì ? Với tư cách là người quy định cái phổ biến, công dân của nhà nước là người lập pháp; với tư cách là người đảm nhiệm việc quyết định cái đơn nhất, người thật sự biểu hiện ý chí của mình, thì anh ta là nhà vua. Khẳng định rằng tính cá thể của ý chí nhà nước là "một cá nhân", một cá nhân đặc biệt khác với mọi cá nhân khác, - lời khẳng định ấy có ý nghĩa gì ? Vì rằng cả tính phổ biến, tức quyền lập pháp, cũng có "hình thức tách riêng, hiện thực cho mình"; trong trường hợp này, sẽ có thể kết luận: "quyền lập pháp là những cá nhân đặc thù ấy".
Con người thông thường nói:
2) Vua có quyền lực tối cao, tức chủ quyền.
3) Chủ quyền muốn gì thì làm nấy.
Hê-ghen nói:
2) Chủ quyền nhà nước là nhà vua.
3) Chủ quyền là “sự tự quy định trừu tượng, do đó mà không có cơ sở, của ý chí; sự tự quy định này chi phối quyết định cuối cùng".
Hê-ghen biến tất cả những thuộc tính của ông vua lập hiến ở châu Âu hiện đại thành những tự quy định tuyệt đối của ý chí. Ông không nói: ý chí của nhà vua là quyết định cuối cùng, mà nói: quyết định cuối cùng của ý chí là nhà vua. Mệnh đề thứ nhất là có tính chất kinh nghiệm. Mệnh đề thứ hai xuyên tạc sự kiện kinh nghiệm, biến nó thành định lý siêu hình.
Hê-ghen trộn lẫn và hỗn hợp hai chủ thể với nhau: chủ quyền với tính cách là "tính chủ quan tự tin vào bản thân" và chủ quyền với tính cách là "sự tự quy định không có cơ sở của ý chí", với tính cách là ý chí cá nhân, để nhằm dựng lên một "ý niệm" thể hiện ra trong “một cá nhân".
Rõ ràng là tính chủ quan tự tin vào bản thân phải thực sự thể hiện ý chí, và phải thể hiện như vậy với tính cách là một cái thống nhất, với tính cách là một cá nhân. Nhưng đã từng có ai nghi ngờ về chỗ nhà nước hành động thông qua những cá nhân? Nếu như Hê-ghen muốn chứng minh rằng nhà nước chỉ cần phải có một cá nhân thôi để đại biểu cho sự thống nhất mang tính chất cá nhân của mình thì Hê-ghen đã không cấu tạo nên được ông vua bằng cách đó. Kết quả tích cực của đoạn văn này, mà chúng ta nêu ra, chỉ có thể là như sau:
Vua là yếu tố ý chí cá nhân trong nhà nước, là yếu tố tự quy định không có cơ sở, là yếu tố sự tùy tiện.
Lời chú thích của Hê-ghen cho đoạn văn này thật là lạ lùng, khiến chúng ta phải bàn tới một cách tỉ mỉ hơn.
“Sự phát triển nội tại của bất cứ khoa học nào, tức là việcsuy ra toàn bộ nội dung của nó từ khái niệm giản đơn đều... làm bộc lộ một đặc điểm là: cũng một khái niệm ấy (ở đây khái niệm đó là ý chí), - thoạt đầu (bởi vì đó là bước đầu) là trừu tượng, -tự bảo tồn, nhưng chỉ có thông qua bản thân mình mới làm cho những tính quy định của mình cô đọng lại và do đó mới có được nội dung cụ thể. Chẳng hạn, yếu tố cơ bản là nhân cách - thoạt đầu, trong quyền trực tiếp, còn là trừu tượng - đã tự phát triển bản thân thông qua những hình thức khác nhau của tính chủ quan của mình, và ở đây, tức là trong quyền tuyệt đối, trong nhà nước, trong tính khách quan hoàn toàncụ thể của ý chí, nó là nhân cách của nhà nước, là sự tự tin của nhà nước vào bản thân, - nó là cái cuối cùng gạt bỏ mọi tính đặc thù trong cái bản ngã giản đơn của nó, cắt đứt việc cân nhắc những lý lẽ trái ngược nhau bao giờ cũng có thể làm cho người ta dao động, kết thúc những lý lẽ đó bằng "tôi muốn!” và tự khởi đầu mọi hoạt động và hiện thực".
Trước hết, "đặc điểm của khoa học" không phải ở chỗ là khái niệm cơ bản của đối tượng được lặp đi lặp lại.
Sau nữa, ở đây không có một sự vận động tiến lên nào cả. Trước đây, nhân cách trừu tượng là chủ thể của quyền trừu tượng, nó không thay đổi; bây giờ nó là nhân cách nhà nước, nhưng vẫn với tính cách là nhân cách trừu tượng. Lẽ ra Hê-ghen không nên lấy làm ngạc nhiên về chỗ con người hiện thực - mà nhà nước là do những con người hợp thành - không ngừng xuất hiện với tính cách là thực chất của nhà nước. Lẽ ra Hê-ghen phải lấy làm ngạc nhiên về điều ngược lại, ông ta lại càng phải ngạc nhiên hơn về chỗ con người, với tính cách là con người chính trị, cũng lại biểu hiện ra dưới cái dạng sự trừu tượng nghèo nàn như con người trong tư pháp.
Ở đây, Hê-ghen quy định nhà vua là "nhân cách của nhà nước, là sự tự tin của nhà nước vào bản thân". Nhà vua là "chủ quyền được nhân cách hóa", là "chủ quyền biến thành người", là ý thức nhà nước được hiện thân, do đó tất cả những người khác đều bị loại ra khỏi chủ quyền đó, khỏi nhân cách nhà nước và ý thức nhà nước. Nhưng đồng thời Hê-ghen lại không thể đưa vào "souveraineté personne" [2]bất cứ nội dung nào khác ngoài cái "tôi muốn" ngoài cái yếu tố tính tùy tiện trong ý chí. "Lý tính nhà nước" và "ý thức nhà nước" thể hiện ở một người "duy nhất", có tính chất kinh nghiệm và bài trừ tất cả những người khác, nhưng nội dung duy nhất mà lý tính được nhân cách hóa có được lại là sự trừu tượng "tôi muốn" của mình. "L’état c’est moi"[3].
"Nhưng tiếp nữa,nhân cách và tính chủ quan nói chung, với tư cách là một cái vô hạn và tự quan hệ với bản thân, là chân lý một cách vô điều kiện - cụ thể là chân lý trực tiếp gần nhất của mình - chỉ với tính cách là con người, là chủ thể tồn tại cho mình; và cái tồn tại cho mình “nhất định cũng là cái đơn nhất".
Đương nhiên, vì nhân cách và tính chủ quan chỉ là những vị ngữ của con người và của chủ thể, cho nên chúng chỉ tồn tại với tính cách là người và chủ thể, mà người là một cái đơn nhất. Nhưng lẽ ra Hê-ghen phải nói thêm rằng chỉ nhất thiết với tính cách là nhiều cái đơn nhất thì cái đơn nhất mới là chân lý. Vị ngữ, tức bản chất, không bao giờ nói lên hết những lĩnh vực tồn tại của mình bằng một cái đơn nhất, mà bằng nhiều cái đơn nhất.
Đáng lẽ làm như thế, Hê-ghen lại đưa ra suy luận như sau:
"Chỉ với tính cách là một cá nhân, với tính cách là nhà vua thì nhân cách nhà nước mới là hiện thực".
Vậy là, vì tính chủ quan chỉ có thể tồn tại với tính cách là chủ thể, còn mỗi chủ thể chỉ có thể tồn tại với tính cách là một cái đơn nhất, cho nên nhân cách nhà nước chỉ có thể là hiện thực với tính cách là một cá nhân. Quả là một suy luận tuyệt vời ! Cũng với căn cứ đó, Hê-ghen sẽ có thể suy luận như sau: vì mỗi người riêng lẻ là một cái đơn nhất, nên toàn bộ loài người chỉ là một người duy nhất.
“Nhân cách biểu hiện khái niệm với tính cách là khái niệm; con người đồng thời còn chứa đựng trong bản thân mình tính hiện thực của khái niệm, và chỉ với quy định ấy thì khái niệm mới là ý niệm, mới là chân lý”.
Nhân cáchkhông có con người thì cố nhiên là một điều trừu tượng; nhưng cũng chỉ trong sự tồn tại loài của mình, chỉ với tính cách là những con người thì người mới là ý niệm hiện thực của nhân cách.
“Cái gọi là pháp nhân, tức hội, đoàn thể, gia đình - dù cho bản thân nó cụ thể như thế nào chăng nữa - vẫn chỉ có nhân cách với tính cách là một yếu tố trừu tượng của bản thân nó; nhân cách trong pháp nhân không đạt tới chân lý tồn tại củamình. Còn nhà nước thì chính là cái tổng thể trong đó những yếu tố của khái niệm đạt tới tính hiện thực phù hợp với chân lý đặc biệt của chúng".
Trong câu này là cả một sự lầm lẫn lớn. Ở đây, pháp nhân, tức hội v.v., - do đó, chính những hình thức loài trong đó con người hiện thực biến nội dung hiện thực của mình thành hiện thực, khách thể hóa bản thân sau khi đã từ bỏ sự trừu tượng của "con người quand mê me"[4], - đều được gọi là những cái trừu tượng. Lẽ ra phải thừa nhận sự thực hiện ấy của con người là cụ thể nhất thì Hê-ghen lại nêu ra điều sau đây, coi là tính ưu việt của nhà nước: "yếu tố khái niệm", "tính đơn nhất" trong nhà nước đang đạt tới một "tồn tại hiện có" thần bí nào đó. Cái hợp lý không phải là ở chỗ lý tính của con người hiện thực đạt được tính hiện thực, mà là ở chỗ những yếu tố của khái niệm trừu tượng đạt tới tính hiện thực.
"Khái niệm nhà vua sở dĩ khó hiểu nhất đối với lý trí, tức là đối với sự xcm xét có tính chất lý trí phản tư, là vì sự xem xét này không đi quá những quy định rời rạc và do đó chỉ biết những lý do, những quan điểm có hạn và sự suy luận xuất phát từ những lý do đó. Như vậy, sự xem xét ấy hình dung uy nghiêm của nhà vua là một cái có tính chất phái sinh chẳng những về mặt hình thức mà cả về mặt quy định của nó: thế nhưng ngược lại, khái niệm nhà vua không phải là một cái gì phái sinh, mà nó bắt đầu một cách tuyệt đối từ bản thân nó. Gần gũi nhất" (còn nói gì nữa!) “với quan điểm đó, là cái quan niệm coi quyền nhà vua là một cái dựa trên quyền uy thần thánh, vì quan niệm ấy chứa đựng tư tưởng về tính tuyệt đối của quyền nhà vua".
Bất kỳ sự tồn tại tất yếu nào, trên một ý nghĩa nào đó, đều "bắt đầu một cách tuyệt đối từ bản thân"; về mặt này, con rận của nhà vua cũng chẳng khác gì bản thân nhà vua. Như thế là Hê-ghen đã không hề nói tới cái gì tạo thành đặc điểm của nhà vua. Còn nếu Hê-ghen nghĩ rằng đối với nhà vua, chúng ta phải thừa nhận một cái gì đặc biệt khiến cho nhà vua khác với tất cả những đối tượng khác của khoa học và của triết học pháp quyền, thì đó chỉ là sự ngu xuẩn; cái tư tưởng đó của Hê-ghen chỉ đúng trong chừng mực mà "con người - ý niệm đơn nhất" là một cái gì nảy sinh ra từ tưởng tượng, chứ không phải từ lý trí.
"Có thể nói về chủ quyền của nhân dân với ý nghĩa là, đối với thế giới bên ngoài, nhân dân nói chung là một cái gì độc lập và cấu thành nhà nước của chính mình" v.v..
Đây là một chân lý sơ đẳng. Nếu nhà vua là "chủ quyền chân chính của nhà nước" thì đối với thế giới bên ngoài, ông ta cũng phải được thừa nhận là "nhà nước độc lập", thậm chí không phụ thuộc cả vào nhân dân. Còn nếu nhà vua có chủ quyền, vì đại biểu cho sự thống nhất của nhân dân, thì bản thân nhà vua chỉ là người đại biểu cho chủ quyền của nhân dân, là tượng trưng của chủ quyền đó. Chủ quyền của nhân dân không phải là cái phát sinh từ chủ quyền của nhà vua, mà ngược lại, chủ quyền của nhà vua dựa trên chủ quyền của nhân dân.
“Như vậy, nếu chỉ nói chung về tổng thể thì cũng có thể nói về chủ quyền trong nước rằng nó nằm trong nhân dân, hoàn toàn giống như trên đây (§277, §278) chúng ta đã chỉ ra rằng nhà nước có chủ quyền".
Làm như thể nhân dân không phải là nhà nước hiện thực. Nhà nước là một sự trừu tượng. Chỉ có nhân dân mới là cụ thể. Và điều đáng chú ý là, Hê-ghen không ngần ngại gán cho cái trừu tượng một tính chất sinh động như chủ quyền, và ngần ngại gán tính chất đó cho cái cụ thể, với đủ mọi sự dè dặt.
"Nhưng theo cái ý nghĩa thông thường mà trong thời đại hiện nay người ta bắt đầu nói về chủ quyền của nhân dân thì nó đối lập với chủ quyền tồn tại ở nhà vua; được xét trong sự đối lập đó, chủ quyền của nhân dân thuộc vào loại những tư tưởng hỗn độn mà cơ sở là quan niệm kỳ quái về nhân dân".
Ở đây, chỉ Hê-ghen mới có "những tư tưởng hỗn độn" và "quan niệm kỳ quái" mà thôi. Hiển nhiên là nếu chủ quyền tồn tại ở phía nhà vua thì nói đến chủ quyền đối lập ở phía nhân dân là ngu xuẩn, vì bản thân khái niệm chủ quyền không thể có hai sự tồn tại được và lại càng không thể có sự tồn tại đối lập với bản thân nó. Nhưng:
l) Vấn đề chính là ở chỗ: cái chủ quyền dường như được tập trung ở nhà vua, phải chăng là một ảo tưởng? Chủ quyền của nhà vua hay chủ quyền của nhân dân, - vấn đề là ở đó!
2) Cũng có thể nói đến chủ quyền của nhân dân đối lập với chủ quyền tồn tại ở nhà vua. Nhưng khi đó, vấn đề không phải là cùng một chủ quyền tồn tại ở hai phía, mà là hai khái niệm về chủ quyền hoàn toàn đối lập với nhau, trong đó, một khái niệm chỉ cái chủ quyền có thể được thực hiện ở nhà vua, còn khái niệm kia thì chỉ cái chủ quyền chỉ có thể được thực hiện ở nhân dân thôi. Điều này cũng giống như câu hỏi: thượng đế là chúa tể hay con người là chúa tể? Một trong hai chủ quyền ấy là một sự không thật, tuy là một sự không thật đang tồn tại.
"Nhân dân màkhông có nhà vua của mình và không có một sự phân chia của tổng thể, sự phân chia gắn liền một cách tất yếu và trực tiếp với chính nhà vua, thì chỉ là một đám đông không có hình thù, không còn là nhà nước nữa và không còn có bất cứ một trong những tính quy định nào chỉ tồn tại trong một tổng thể đã được hình thành bên trong bản thân, - tức là một đám đông không có chủ quyền, không có chính phủ, không có tòa án, không có cấp chỉ huy, không có đẳng cấp, không có gì cả. Vì trong nhân dân đó xuất hiện những nhân tố có liên quan đến tổ chức và đời sống của nhà nước, cho nên nhân dân ấy không còn là một sự trừu tượng không xác định mà chỉ trong quan niệm chung nhất, mới được gọi là nhân dân".
Tất cả những điều đó đều là một lối nói trùng lắp. Nếu nhân dân có một ông vua và có một sự phân chia của tổng thể, gắn liền một cách tất yếu và trực tiếp với nhà vua, tức là nếu nhân dân được tổ chức thành nước quân chủ thì lúc đó, ở ngoài tổ chức này, tất nhiên nhân dân biến thành một đám đông không có hình thù và chỉ trở thành một quan niệm chung.
"Nếu hiểu chủ quyền của nhân dân là hình thức chế độ cộng hòa, hoặc nói một cách xác định hơn, là hình thức chế độ dân chủ [...] thì [...] không thể bàn tới một quan niệm như vậy khi chúng ta đề cập đến ý niệm đã phát triển".
Dĩ nhiên nói như vậy là đúng, nếu như về chế độ dân chủ, người ta chỉ có một "quan niệm như vậy", chứ không phải một "ý niệm đã phát triển".
Chế độ dân chủ là chân lý của chế độ quân chủ; còn chế độ quân chủ thì không phải là chân lý của chế độ dân chủ . Chế độ quân chủ tất yếu phải là chế độ dân chủ không nhất quán đối với bản thân, còn yếu tố quân chủ thì không phải là sự không nhất quán trong chế độ dân chủ. Không thể hiểu được chế độ quân chủ từ bản thân chế độ quân chủ, nhưng chế độ dân chủ thì có thể hiểu được từ bản thân nó. Trong chế độ dân chủ, không có một yếu tố nào của nó lại có một ý nghĩa khác với ý nghĩa thuộc về yếu tố đó. Mỗi yếu tố đều là yếu tố hiện thực của toàn thể dân chúng. Còn trong chế độ quân chủ thì bộ phận quyết định tính chất của tổng thể. Toàn bộ chế độ nhà nước ở đây đều buộc phải thích ứng với một điểm cố định. Chế độ dân chủ là chế độ nhà nước với tính cách là khái niệm loài. Còn chế độ quân chủ thì chỉ là một trong những giống của chế độ nhà nước, mà lại là một giống tồi. Chế độ dân chủ là nội dung và hình thức. Chế độ quân chủ dường như chỉ là hình thức, nhưng trong thực tế thì nó xuyên tạc nội dung.
Dưới chế độ quân chủ, tổng thể, tức nhân dân, bị đặt vào một trong những phương thức tồn tại của họ, tức chế độ chính trị của họ. Còn trong chế độ dân chủ thì bản thân chế độ nhà nước thể hiện ra là một trong những tính quy định, cụ thể là sự tự quy định của nhân dân. Trong chế độ quân chủ, chúng ta có nhân dân của chế độ nhà nước; trong chế độ dân chủ, chúng ta có chế độ nhà nước của nhân dân. Chế độ dân chủ là câu đố đã được giải đáp của mọi hình thức chế độ nhà nước. Ở đây, chế độ nhà nước - không chỉ tự nó, xét theo bản chất của nó, mà còn xét theo sự tồn tại của nó, theo tính hiện thực của nó - ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của nó, tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực, và được xác định là sự nghiệp của bản thân nhân dân. Chế độ nhà nước ở đây xuất hiện đúng chân tướng của nó, - tức là xuất hiện với tính cách là sản phẩm tự do của con người. Cũng có thể có ý kiến khác cho rằng theo một ý nghĩa nhất định thì điều này cũng đúng với chế độ quân chủ lập hiến. Tuy nhiên, đặc điểm riêng biệt của chế độ dân chủ là: ở đây chế độ nhà nước nói chung chỉ là một yếu tố của sự tồn tại của nhân dân, chế độ chính trị tự bản thân nó, ở đây, không tạo thành nhà nước.
Hê-ghen xuất phát từ nhà nước và biến con người thành nhà nước được chủ thể hóa. Chế độ dân chủ xuất phát từ con người và biến nhà nước thành con người được khách thể hóa. Cũng giống như tôn giáo không tạo ra con người mà con người tạo ra tôn giáo, ở đây cũng vậy: không phải chế độ nhà nước tạo ra nhân dân mà nhân dân tạo ra chế độ nhà nước. Trên một ý nghĩa nào đó, chế độ dân chủ quan hệ với mọi hình thức nhà nước khác, giống như đạo Cơ Đốc quan hệ với mọi tôn giáo khác. Đạo Cơ Đốc là tôn giáo cat“exchn[5]là thực chất của tôn giáo, là con người được thần thánh hóa coi là tôn giáo đặc biệt. Chế độ dân chủ cũng vậy, nó là bản chất của bất kỳ chế độ nhà nước nào, là con người được xã hội hóa coi là hình thức đặc thù của chế độ nhà nước. Chế độ dân chủ quan hệ với mọi hình thức khác của chế độ nhà nước như loài quan hệ với các giống của mình. Tuy nhiên, ở đây bản thân loài cũng xuất hiện như một cái gì tồn tại, và vì thế, đối với những hình thức tồn tại khác không phù hợp với bản chất của mình thì bản thân loài cũng xuất hiện như một giống đặc thù. Chế độ dân chủ quan hệ với mọi hình thức nhà nước khác như với Cựu ước của mình. Dưới chế độ dân chủ, không phải con người tồn tại vì luật pháp, mà luật pháp tồn tại vì con người; ở đây sựtồn tại của con người là luật pháp, trong khi đó thì dưới những hình thức khác của chế độ nhà nước, con người lại là tồn tại được quy định bởi luật pháp. Dấu hiệu đặc trưng cơ bản của chế độ dân chủ là như vậy.
Tất cả những kết cấu nhà nước khác đều là những hình thức nhà nước đặc thù, cụ thể, nhất định. Còn trong chế độ dân chủ, nguyên tắc hình thức cũng đồng thời là nguyên tắc vật chất. Vì thế, chỉ có chế độ dân chủ mới là sự thống nhất chân chính giữa cái phổ biến và cái đặc thù. Trong chế độ quân chủ chẳng hạn, hoặc trong chế độ cộng hòa mà ta chỉ coi là một hình thức nhà nước đặc thù, thì con người chính trị có sự tồn tại đặc thù của mình bên cạnh con người phi chính trị, con người với tư cách là một tư nhân. Ở đây, tài sản, khế ước, hôn nhân, xã hộicôngdân, biểu hiện ra (như Hê-ghen đã chứng minh điều đó một cách hoàn toàn đúng đắn khi nói đến những hình thức nhà nước trừu tượng ấy, nhưng đồng thời ông ta lại cho rằng ông ta đang phát triển ý niệm nhà nước) là những phương thức tồn tại đặc thù bên cạnh nhà nước chính trị, là cái nội dung mà đối với nó, nhà nước chính trị là một hình thức tổ chức, hay nói cho đúng ra, chỉ là lý trí đang quy định, đang hạn chế, khi thì khẳng định, khi thì phủ định, còn bản thân thì lại không có nội dung nào cả. Còn trong chế độ dân chủ thì bản thân nhà nước chính trị, dưới hình thức mà nó hình thành bên cạnh nội dung đó và tự phân biệt với nội dung đó, chỉ là nội dung đặc thù của nhân dân, chỉ là hình thức tồn tại đặc biệt của nhân dân thôi. Trong chế độ quân chủ chẳng hạn, cái đặc thù ấy - chế độ chính trị – có ý nghĩa của cái phổ biến đang thống trị và quy định mọi cái đặc thù. Trong chế độ dân chủ, nhà nước với tính cách là yếu tố đặc thù thì chỉ là một yếu tố đặc thù, còn với tính cách là cái phổ biến thì nó thật sự là cái phổ biến, nghĩa là nhà nước không phải là một nội dung xác định nào đó khác với nội dung khác. Người Pháp ngày nay hiểu điều đó như sau: trong chế độ dân chủ thật sự thì nhà nước chính trị không còn nữa. Điều này là đúng trong chừng mực mà trong chế độ dân chủ, nhà nước chính trị, với tính cách là như vậy, với tính cách là một chế độ chính trị, không còn được thừa nhận là một tổng thể nữa. Trong tất cả mọi hình thức nhà nước khác với chế độ dân chủ thì nhà nước, luật pháp, chế độ nhà nước là yếu tố thống trị, nhưng nhà nước lại không thật sự thống trị, tức là nhà nước không thâm nhập một cách vật chất vào nội dung của những lĩnh vực phi chính trị khác. Trong chế độ dân chủ thì chế độ nhà nước, luật pháp, bản thân nhà nước - trong chừng mực nhà nước là một chế độ chính trị nhất định - chỉ là sự tự quy định của nhân dân và là nội dung xác định của nhân dân.
Vả lại, đương nhiên là mọi hình thức nhà nước đều có chân lý của mình trong chế độ dân chủ, và chính vì thế cho nên những hình thức ấy không phải là dân chủ đến mức nào thì chúng cũng không phải là chân lý đến mức đó.
Trong các nhà nước thời cổ, nhà nước chính trị là nội dung của nhà nước, loại trừ những lĩnh vực khác; còn nhà nước hiện đại là sự thích ứng lẫn nhau giữa nhà nước chính trị và nhà nước phi chính trị.
Trong chế độ dân chủ, nhà nước trừu tượng không còn là yếu tố thống trị nữa. Cuộc tranh cãi giữa chế độ quân chủ và chế độ cộng hòa vẫn là cuộc tranh cãi nằm trong phạm vi nhà nước trừu tượng. Chế độ cộng hòa chính trị là chế độ dân chủ nằm trong phạm vi hình thức nhà nước trừu tượng. Vì vậy, chế độ cộng hòa là hình thức nhà nước trừu tượng của chế độ dân chủ, nhưng ở đây nó không còn chỉ là chế độ chính trị nữa.
Với một vài sự thay đổi, thì tài sản, v.v., tóm lại, toàn bộ nội dung của pháp quyền và nhà nước ở Bắc Mỹ cũng giống như ở nước Phổ. Do đó, chế độ cộng hòa ở kia, cũng như chế độ quân chủ ở đây, đều chỉ là hình thức nhà nước mà thôi. Nội dung nhà nước nằm bên ngoài khuôn khổ của những hình thức chế độ nhà nước đó. Vì thế, Hê-ghen đúng khi ông nói: nhà nước chính trị là chế độ nhà nước. Điều này có nghĩa là: nhà nước vật chất không phải là nhà nước chính trị. Ở đây chỉ có sự giống nhau bề ngoài, tức sự quy định lẫn nhau. Trong số những yếu tố khác nhau của đời sống nhân dân, thì cái khó hình thành nhất là nhà nước chính trị, tức chế độ nhà nước. Đối với những lĩnh vực khác, chế độ nhà nước đã phát triển với tính cách là lý tính phổ biến, với tính cách là một cái gì ở thế giới bên kia đối với chúng. Cho nên nhiệm vụ lịch sử là làm cho nhà nước chính trị quay trở về thế giới hiện thực; nhưng đồng thời các lĩnh vực đặc thù không nhận thấy rằng khi bản chất thế giới bên kia của chế độ nhà nước, hoặc của nhà nước chính trị, bị xóa bỏ thì bản chất riêng của các lĩnh vực đó cũng bị xóa bỏ theo, rằng sự tồn tại bên kia của nhà nước chính trị chẳng qua chỉ là sự khẳng định việc tha hóa của bản thân các lĩnh vực đó. Cho tới nay, chế độ chính trị là lĩnh vực tôn giáo, là tôn giáo của đời sống nhân dân, là thượng đế của tính phổ biến của đời sống nhân dân, đối lập với sự tồn tại trần tục của tính hiện thực của đời sống nhân dân. Lĩnh vực chínhtrị là lĩnh vực nhà nước duy nhất trong nhà nước, là lĩnh vực duy nhất mà nội dung, giống như hình thức của nó, là có tính chất loài và là cái phổ biến chân chính; nhưng vì lĩnh vực này đối lập với những lĩnh vực khác, nên cả nội dung của nó cũng mang tính chất hình thức và đặc thù. Đời sống chính trị, với ý nghĩa hiện đại, là triết học kinh viện của đời sống nhân dân. Chế độ quân chủ là biểu hiện hoàn chỉnh của sự tha hóa ấy; còn chế độ cộng hòa lại là cái phủ định sự tha hóa đó trong lĩnh vực riêng của nó. Hiển nhiên là chế độ chính trị, với tính cách là chế độ chính trị, chỉ phát triển ở nơi nào mà những lĩnh vực tư nhân đã đạt tới sự tồn tại độc lập. Nơi nào mà thương nghiệp và sở hữu ruộng đất còn chưa được tự do, còn chưa đạt tới sự tồn tại độc lập, thì ở đó, nói cho đúng ra, cũng chưa có chế độ chính trị. Thời trung cổ là chế độ dân chủ của sự không tự do.
Sự trừu tượng của nhà nước với tính cách là nhà nước chỉ là đặc trưng của thời cận đại, vì sự trừu tượng của đời sống tư nhân chỉ là đặc trưng của thời cận đại thôi. Sự trừu tượng của nhà nước chính trị là sản phẩm của thời đại ngày nay.
Thời trung cổ đã có nông nô, sở hữu ruộng đất phong kiến, phường hội thủ công, hội của các học giả v.v.; nghĩa là vào thời trung cổ, sở hữu, thương nghiệp, đoàn thể xã hội, con người đều đã có tính chất chính trị; ở đây nội dung vật chất của nhà nước được quy định bởi hình thức của nhà nước. Ở đây, mọi lĩnh vực tư nhân đều có tính chất chính trị, hoặc đều là lĩnh vực chính trị; nói cách khác, chính trị cũng là tính chất của những lĩnh vực tư nhân. Vào thời trung cổ, chế độ chính trị là chế độ sở hữu tư nhân, nhưng chỉ là vì chế độ sở hữu tư nhân là một chế độ chính trị. Ở thời trung cổ, đời sống nhân dân và đời sống nhà nước là đồng nhất. Ở đây, con người là nguyên tắc hiện thực của nhà nước, nhưng đó là con người không tự do. Vì vậy, đó là chế độ dân chủ của sự không tự do, là sự tha hóa đến mức độ hoàn thiện. Sự đối lập mang tính chất trừu tượng, phản tư, chỉ nảy sinh trong thế giới hiện đại. Nhị nguyên luận hiện thực là đặc điểm của thời trung cổ; nhị nguyên luận trừu tượng là đặc điểm của thời hiện đại.
"Trong giai đoạn đã nêu ở trên, tức là giai đoạn trong đó những hình thức của chế độ nhà nước được phân chia thành chế độ dân chủ, chế độ quý tộc và chế độ quân chủ, xét theo quan điểm củacái tính thống nhất thực thể vẫn còn ở lại trong bản thân nó, còn chưa đạt tới sự phân chia vô hạn của nó và đi sâu vào bản thân nó, thì yếu tố sự quyết định cuối cùng có tính cách tự quy định, của ý chí, xuất hiện trong tính hiện thực đặc biệt của nó không phải với tính cách là yếu tố hữu cơ nội tại của bản thân nhà nước”.
Trong chế độ quân chủ, chế độ dân chủ và chế độ quý tộc trực tiếp thì còn chưa có chế độ chính trị với tính cách là một cái gì khác với nhà nước hiện thực, vật chất, hoặc với mọi nội dung khác của đời sống nhân dân. Nhà nước chính trị chưa xuất hiện với tư cách là hình thức của nhà nước vật chất. Hoặc giả là, như ở Hy Lạp, les publica[6]là việc tư thật sự của công dân, là nội dung hiện thực của hoạt động của họ, và tư nhân là nô lệ; ở đây, nhà nước chính trị, với tính cách là nhà nước chính trị, là nội dung duy nhất chân chính của đời sống và ý chí của công dân; - hoặc giả là, như dưới chế độ chuyên chế châu Á, nhà nước chính trị không phải là cái gì khác ngoài sự chuyên quyền độc đoán riêng của một cá nhân duy nhất; nói cách khác, nhà nước chính trị, cũng giống như nhà nước vật chất, là một nô lệ. Sự khác biệt giữa nhà nước hiện đại và những nhà nước ấy, tức là những nước có sự thống nhất thực thể giữa nhân dân và nhà nước, không phải là ở chỗ những yếu tố khác nhau của chế độ nhà nước đã phát triển tới mức tính hiện thực đặc thù, như Hê-ghen nghĩ, mà là ở chỗ bản thân chế độ nhà nước đã phát triển cùng với đời sống nhân dân hiện thực tới mức tính hiện thực đặc thù, là ở chỗ nhà nước chính trị đã trở thành chế độ của tất cả các mặt khác của nhà nước.
§280. "Sự tự khẳng định cuối cùng ấy của ý chí nhà nước, trong tính trừu tượng ấy của nó, là đơn giản, và vì thế nó là tính đơn nhất trực tiếp; do đó, trong bản thân khái niệm của nó, có sự quy định của tính tự nhiên; vì vậy, nhà vua được tiên định một cáchbản chất làm người mang phẩm cách nhà vua với tư cách là cá nhân ấy, khôngkể đến mọi nội dung khác, và cá nhân này được chỉ định làm một người như thế bằng phương thức trực tiếp, bằng phương thức tự nhiên, nhờ sự sinh đẻ nhục thể".
Chúng ta đã nghe nói rằng tính chủ quan là chủ thể, còn chủ thể thì nhất thiết phải là cá nhân có tính chất kinh nghiệm, là cái đơn nhất. Bây giờ, chúng ta lại biết được rằng khái niệm tính đơn nhất trực tiếp bao hàm sự quy định của tính tự nhiên, của tính thể xác. Hê-ghen chỉ chứng minh điều không cần phải chứng minh, tức là: tính chủ quan chỉ tồn tại với tính cách là cá nhân có thể xác; còn đối với cá nhân có thể xác này thì đương nhiên sự sinh đẻ nhục thể là dấu hiệu cần thiết.
Hê-ghen cho là ông đã chứng minh rằng tính chủ quan của nhà nước, chủ quyền, nhà vua, là "cái bản chất", rằng nhà vua "được tiên định làm người mang phẩm cách nhà vua với tư cách là cá nhân ấy, không kể đến mọi nội dung khác, và cá nhân này được chỉ định làm một người như thế bằng phương thức trực tiếp, bằng phương thức tự nhiên, nhờ sự sinh đẻ nhục thể". Nếu thế thì chủ quyền, phẩm cách nhà vua, cần được coi là cái do sự sinh đẻ tạo ra. Thể xác của nhà vua quyết định phẩm cách của nhà vua. Như vậy là cấp quyết định tột đỉnh của nhà nước không phải là lý tính, mà chỉ là bản tính nhục thể. Sự sinh đẻ quyết định phẩm chất của nhà vua như nó quyết định phẩm chất của súc vật.
Hê-ghen đã chứng minh rằng nhà vua phải được đẻ ra, điều đó thì không ai nghi ngờ cả, nhưng ông đã không chứng minh rằng sự sinh ra đã làm cho nhà vua trở thành nhà vua.
Con người do sự sinh đẻ mà được tiên định là nhà vua, - điều đó, giống như giáo lý về sự hoài thai trinh khiết của Đức mẹ Ma-ri-a, cũng không thể trở thành chân lý siêu hình học được. Nhưng cả quan niệm sau, tức là sự kiện ý thức, lẫn quan niệm trước, tức là biểu hiện sự kiện kinh nghiệm, đều có thể cắt nghĩa bằng những ảo tưởng và những quan hệ của con người.
Trong lời chú thích [cho §280], mà chúng ta sẽ xem xét tỉ mỉ hơn, Hê-ghen lấy làm đắc ý về cái ý nghĩ là ông đã chứng giải cái không hợp lý thành một cái hợp lý tuyệt đối .
"Bước chuyển đó từ khái niệm tự quy định thuần túy sang tính trực tiếp của tồn tại, và do đó, sang tính tự nhiên, là bước chuyển mang tính chất tư biện thuần túy, và do đó, sự nhận thức về bước chuyển ấy là thuộc lĩnh vực triết học lô-gích".
Tất nhiên, đây là tư biện thuần túy, nhưng điều đó không phải là do Hê-ghen đã thực hiện một bước nhảy vọt từ sự tự quy định thuần túy, từ sự trừu tượng, sang tính tự nhiên thuần túy (tính ngẫu nhiên của sự sinh đẻ là tính tự nhiên thuần túy ấy), tức là sang một cực khác, car les extrêmes se touchent[7]. Ở đây, cái tư biện là ở chỗ Hê-ghen gọi đó là "bước chuyển của khái niệm", là ở chỗ ông coi sự mâu thuẫn gay gắt nhất là sự đồng nhất, coi sự thiếu nhất quán hết sức lớn là sự nhất quán.
Có thể coi lời khẳng định sau đây là lời thừa nhận tích cực của Hê-ghen: với nhà vua thế tập, thì lý tính tự quy định bị thay thế bởi tính quy định trừu tượng của những thuộc tính tự nhiên, nhưng không phải với tính cách là cái mà nó đích thị là, không phải với tính cách là tính quy định của tự nhiên, mà với tính cách là tính quy định tối cao của nhà nước, - như vậy ở đây, trước mặt chúng ta có một điểm tích cực, ở đó chế độ quân chủ không còn có thể cứu vãn nổi cái ảo tưởng cho rằng dường như chế độ quân chủ là tổ chức của ý chí hợp lý.
“Vả chăng, xét về toàn bộ, đó cũng vẫn là bước chuyển ấy (?), bước chuyển được biết tới với tính cách là bản tính của ý chí nói chungvà là quá trình di chuyển của nội dung từ tính chủ quan (với tính cách là mục đích đã hình dung) sang tồn tại hiện có [...]. Nhưng hình thức độc đáo của ý niệm và của bước chuyển xem xét ở đây là sự chuyển hoá trực tiếp củasự tự quy định thuần tuý của ý chí (của bản thân khái niệm đơn giản) thành một"cái ấy" nào đó và thành sự tồn tại hiện có tự nhiên, không qua sự môi giới của nội dung đặc thù (của mục đích đang hành động)”.
Hê-ghen nói rằng sự chuyển hóa của chủ quyền nhà nước (của sự tự quy định nào đó của ý chí) thành thân thể của nhà vua đã được sinh ra (thành tồn tại hiện có), xét về toàn bộ, là bước chuyển của nội dung nói chung mà ý chí tiến hành nhằm thực hiện mục đích đã hình dung, nhằm chuyển mục đích này thành tồn tại hiện có. Nhưng Hê-ghen nói: xét về toàn bộ. Sự khác biệtđộc đáo mà ông dẫn ra thì độc đáo tới mức là có khả năng xóa bỏ mọi cái giống nhau và dùngảo thuật thay thế "bản tính của ý chí nói chung".
Thứ nhất, việc chuyển mục đích đã hình dung thành tồn tại hiện có, được hoàn thành ở đây một cách trực tiếp, một cách giống như ảo thuật. Thứ hai, ở đây, chủ thể là sự tự quy định thuần túy của ý chí, là bản thân khái niệm giản đơn. Bản chất của ý chí xuất hiện ở đây với tính cách là chủ thể thần bí. Ở đây việc biến thành tồn tại hiện có tự nhiên không phải là sự mong muốn hiện thực, cá nhân, và có ý thức, mà là sự trừu tượng của ý chí, là ý niệm thuần túy thể hiện trong một cá nhân đơn nhất. Thứ ba, ở Hê-ghen, bước chuyển của ý chí thành tồn tại hiện có tự nhiên được thực hiện không những một cách trực tiếp, tức là không cần đến những phương tiện mà ý chí luôn luôn cần đến để tự nhiên được thực hiện, mà thậm chí còn không có cả mục đíchđặc thù, tức là một mục đích nhất định, không có "sự môi giới của nội dung đặc thù, tức là của mục đích đang hành động". Và điều ấy là dễ hiểu, vì ở đây không có chủ thể đang hành động, còn nếu sự trừu tượng, ý niệm thuần túy của ý chí, cần phải hành động, thì nó chỉ có thể hành động một cách thần bí mà thôi. Mục đích không phải là mục đích đặc thù thì không phải là mục đích, cũng giống như hành động không có mục đích là hành động thiếu mục đích, là hành động vô nghĩa. Mọi cái tương tự với hành vi mục đích luận của ý chí, rốt cuộc, tự bộc lộ ra là một sự thần bí hóa. Đó là hành động không nội dung của ý niệm.
Ý chí tuyệt đối và ngôn từ của triết gia là phương tiện; còn mục đích của chủ thể nói triết lý suông vẫn là mục đích đặc thù : cấu tạo nên nhà vua thế tập từ ý niệm thuần túy. Việc thực hiện mục đích ấy chung quy lại chỉ là lời đảm bảo của Hê-ghen mà thôi.
“Trong cái gọi là sự chứng minh bản thể luận về sự tồn tại của thượng đế, chính sự chuyển hóa khái niệm tuyệt đối thành tồn tại" (vẫn là sự thần bí hóa đó) "biểu thị sự sâu sắc của ý niệm trong thời cận đại; song trong thời hiện đại, sự chuyển hóa ấy lại bị người ta coi là" (với đầy đủ căn cứ) "một cái gì không thể hiểu được”.
"Nhưng vì quan niệm về nhà vua được coi là quan niệm hoàn toàn nằm trong lĩnh vực ý thức thông thường" (tức là nhận thức lý trí) "cho nên ở đây lý trí còn dừng lại lâu hơn nữa trong sự tách ra của mình [giữa khái niệm và tồn tại] và trong những kết luận xuất phát từ đó, do lương tri cộng hưởng của nó rút ra. Khi đó lý trí phủ nhận rằng yếu tố quyết định cuối cùng trong nhà nước tự nó (tức là trong khái niệm lý tính) được gắn liền với tính tự nhiên trực tiếp".
Người ta không thừa nhận rằng quyết định cuối cùng có thể được đẻ ra, còn Hê-ghen thì khẳng định rằng nhà vua là quyết định cuối cùng do sinh đẻ mà có; nhưng có ai đã từng hoài nghi về chỗ quyết định cuối cùng trong nhà nước gắn liền với những cá nhâncó thể xác hiện thực, do đó cũng gắn liền với "tính tự nhiên trực tiếp" ?
§281. "Cả hai yếu tố của sự thống nhất không thể phân chia của chúng, - cái tự khẳng định cuối cùng, không có cơ sở, của ý chí, và do đó, sự tồn tại cũng không có cơ sở như thế, với tính cách là quy định ban cho tự nhiên, - cái ý niệm về tính độc lập trong những sự thôi thúc của tuỳ tiện, là sự vĩ đại của nhà vua. Sự thống nhất thật sự của nhà nước nằm trong sự thống nhất đó; nhờ có tính trực tiếp bên trong và bên ngoài của mình, sự thống nhất thật sự của nhà nước mới không bị hạ xuống lĩnh vực của tính đặc thù, xuống lĩnh vực của sự tùy tiện, của những mục đích và quan điểm của tính đặc thù này, mới tránh khỏi sự xâu xé lẫn nhau của tập đoàn này với tập đoàn khác chung quanh ngai vàng và thoát khỏi sự suy yếu và sự tan rã của chính quyền nhà nước".
Hai yếu tố đó là tính ngẫu nhiên của ý chí, tức sự tùy tiện, và tính ngẫu nhiên của tự nhiên, tức sự sinh đẻ, do đó là Hoàng đế Ngẫu nhiên. Vì vậy, ngẫu nhiên là sự thống nhất thật sự của nhà nước.
Hê-ghen khẳng định rằng "tính trực tiếp bên trong và bên ngoài" hình như tránh được xung đột, v.v., - lời khẳng định ấy là hoàn toàn không thể hiểu được, vì chính tính trực tiếp này đã bị phó mặc cho ý chí của ngẫu nhiên.
Điều mà Hê-ghen nói về chế độ quân chủ bầu cử, lại càng đúng hơn đối với nhà vua thế tập:
"Chính dưới chế độ quân chủ bầu cử, - và điều này toát ra từ bản tính của mối quan hệ trong đó ý chí tư nhân là cấp quyết định cuối cùng - chế độ nhà nước trở thành một sự đầu hàng bầu cử" v.v. và v.v., "trở thành việc phó mặc chính quyền nhà nước cho ý chí tư nhân, mà kết quả là những quyền lực đặc thùcủa nhà nước biến thànhtài sản tư nhân, v.v.".
§282. "Chủ quyền của nhà vua sản sinh ra quyền ân xá của những người phạm tội, vì chỉ quyền lực tối cao này mới có quyền thực hiện cái sức mạnh tinh thần đang làm cho cái đã xảy ra trở thành cái chưa xảy ra, đang thủ tiêu tội phạm bằng cách tha thứ và lãng quên".
Quyền ân xá [Begnadigungsrecht] là quyền ban ân [Gnade]. Ân huệ là biểu hiện tối cao của sự tùy tiện đầy tính ngẫu nhiễn; Hê-ghen đề sự tùy tiện ấy lên thành thuộc tính chân chính của nhà vua, là một điều rất có ý nghĩa. Trong phần bổ sung, bản thân Hê-ghen cũng xác định nguồn gốc của ân huệ là "quyết định không có cơ sở".
§283. “Yếu tố thứ hai của quyền lực nhà vua là yếu tố tính đặc thù, hay nội dung xác định, và việc đem nội dung ấy lệ thuộc vào cái phổ biến. Trong chừng mực yếu tố ấy có một sự tồn tại đặc thù thì nó mang hình thức những cơ quan tư vấn tối cao và những cố vấn cá nhân, họ trình lên nhà vua nội dung của những công việc trước mắt của nhà nước hoặc những pháp lệnh do những nhu cầu hiện có mà trở thành cần thiết, cùng với những mặt khách quan của những pháp lệnh đó, tức là những căn cứ, những luật lệ, những tình hình hữu quan v.v.. để nhà vua quyết định. Việc tuyển lựa những cá nhân để làm những việc đó, cũng như việc thải hồi họ, - vì những cá nhân này trực tiếp liên quan tới con người của nhà vua, -là đặc quyền của sự tuỳ tiện vô hạn của nhà vua”.
§284. “Vì chỉ có mặt khách quan trong sự quyết định, - việc am hiểu nội dung công việc là tình hình, những căn cứ pháp luật là những căn cứ khác của quyết định - là có thể phải có người chịu trách nhiệm, nói một cách khác, chỉ có mặt ấy là có thể chứng minh được một cách khách quan, và do đó có thể trở thành đối tượng cho một sự thương nghị khác với ý chí cá nhân của nhà vua với tư cách là nhà vua, - cho nên chỉ những cơ quan tư vấn và những cố vấn cá nhân ấy mới phải chịu trách nhiệm: còn sự vĩ đại đặc biệt của nhà vua, với tính cách là tính chủ quan quyết định cuối cùng, thì cao hơn bất kỳ một sự chịu trách nhiệm nào về hành động của chính phủ”.
Ở đây, Hê-ghen mô tả quyền lực của nội các một cách thuần túy kinh nghiệm, như nó được quy định trong phần lớn các trường hợp ở các quốc gia lập hiến. Điều duy nhất mà triết học thêm vào ở đây là nó làm cho “sự kiện kinh nghiệm” đó biến thành tồn tại, thành vị ngữ của "yếu tố tính đặc thù trong quyền lực của nhà vua”.
(Các bộ trưởng là mặt khách quan hợp lý của ý chí tối cao. Vì vậy, họ cũng có phần vinh dự của trách nhiệm, còn nhà vua thì chỉ được sự không tưởng đặc thù về "sự vĩ đại" của mình.) Do đó, nhân tố tư biện ở đây rất nghèo nàn. Ngược lại, trong những chi tiết của nó, lập luận đều dựa trên những cơ sở thuần túy kinh nghiệm, hơn nữa lại là những cơ sở kinh nghiệm rất trừu tượng, rất tồi.
Ví dụ, việc chọn lựa các bộ trưởng là do "sự tùy tiện vô hạn" của nhà vua quyết định, "vì các bộ trưởng trực tiếp liên quan tới con người của nhà vua", tức là, vì họ là những bộ trưởng. Cũng giống như là có thể suy từ ý niệm tuyệt đối ra cái việc nhà vua "tuyển lựa vô hạn" người hầu cận của mình.
Việc chứng giải trách nhiệm của các bộ trưởng ít ra cũng tốt hơn: "vì chỉ có mặt khách quan trong sự quyết định - việc am hiểu nội dung công việc và tình hình, những căn cứ pháp luật và những căn cứ khác của quyết định - là có thể phải có người chịutrách nhiệm, nói một cách khác, chỉ có mặt ấy là có thể chứng minh được một cách khách quan". Lẽ đương nhiên, "tính chủ quan quyết định cuối cùng", tính chủ quan thuần túy, sự tùy tiện thuần túy, thì không phải là khách quan, do đó, cũng không phải chịu sự chứng minh về tính khách quan và vì vậy cũng không thể chịu trách nhiệm, nếu như một cá nhân nào đó là sự tồn tại được coi là thần thánh, được thần thánh hóa, của sự tùy tiện. Sự chứng minh của Hê-ghen sẽ có sức thuyết phục, nếu xuất phát từ những tiền đề lập hiến, nhưng Hê-ghen đã không chứng minhnhững tiền đề ấy bằng cách phân tích chúng từ quan niệm cơ bản của chúng. Sự lẫn lộn này biểu hiện toàn bộ tính không phê phán của triết học pháp quyền của Hê-ghen.
§285. "Yếu tố thứ ba của quyền lực nhà vua đề cập tới cái phổ biến với tính cách là cái phổ biến; cái phổ biến này, về mặt chủ quan, là lương tâm của nhà vua, còn về mặt khách quan, là toàn bộ chế độ nhà nước và luật pháp; quyền lực nhà vua giả định những yếu tố khác bao nhiêu, thì mỗiyếu tố trongnhững yếu tốnày lại giả định quyền lực ấy bấy nhiêu".
§286. "Bảo đảm khách quan của quyền lực nhà vua, của chế độ vương vị thế tập, v.v. là ở chỗ: nếu như lĩnh vực này có tính hiện thực của mìnhtách khỏi lĩnh vực của những yếu tố khác do lý tính quy định, thì những lĩnh vực khác cũng vậy, chúng cũng có những quyền hạn và nghĩa vụ đặc trưng của chúng, do bản chất của chúng quy định: trong một cơ thể có lý tính, mỗi bộ phận, trong khi bảo tồn bản thân thì đồng thời cũng bảo tồn cả những bộ phận khác dưới hình thức đặc thù của chúng".
Hê-ghen không thấy rằng khi đưa yếu tố thứ ba đó vào, tức "cái phổ biến với tính cách là cái phổ biến", ông phá hoại cả hai yếu tố đầu, hoặc ngược lại. "Quyền lực nhà vua giả định những yếu tố khác bao nhiêu thì mỗi yếu tố trong những yếu tố này lại giả định quyền lực bấy nhiêu". Nếu như tính quy định lẫn nhau này được hiểu không phải một cách thần bí, mà một cách hiện thực, thì quyền lực của nhà vua không phải do sự sinh đẻ quyết định mà do những nhân tố khác quyết định, do đó nó không phải là thế tập, mà là lưu động, tức là, nó là tính quy định của nhà nước, được phân phối luân phiên cho những công dân của nhà nước, phù hợp với cơ cấu bên trong của những yếu tố khác. Trong một cơ thể hợp lý tính, đầu không thể bằng sắt mà thân thể lại bằng thịt. Để tự bảo tồn, các bộ phận phải có phẩm chất như nhau, phải có máu thịt như nhau. Nhưng nhà vua thế tập được trời phú cho phẩm chất đặc biệt, nhà vua là do chất liệu khác tạo nên. Ở đây, ảo thuật của tự nhiên đối lập với cái tính chất bình phàm của ý chí duy lý của những thành viên khác của nhà nước. Hơn nữa, các bộ phận sở dĩ có thể bảo tồnlẫn nhau, chỉ là vì toàn bộ cơ thể nằm trong trạng thái lưu động và mỗi một bộ phận đó đều bị loại khỏi trạng thái lưu động đó, cho nên không một bộ phận nào lại có được đặc điểm "tính không lay chuyển", "tính bất biến" mà ở đây người ta gán cho người đứng đầu nhà nước. Do đó, bằng tính quy định ấy, Hê-ghen đang gạt bỏ "chủ quyền do sự sinh đẻ".
Thứ hai: tính không chịu trách nhiệm. Nếu như nhà vua vi phạm "toàn bộ chế độ nhà nước", vi phạm "luật pháp" thì tính không chịu trách nhiệm của ông ta cũng chấm dứt, vì sự tồn tại của ông ta, do luật pháp nhà nước quy định, cũng chấm dứt. Nhưng chính những luật pháp này, chính chế độ nhà nước này, làm cho ông ta trở thành không chịu trách nhiệm. Do đó, những luật pháp và chế độ đó tự mâu thuẫn, và chỉ một điều kiện hạn chế ấy cũng có thể thủ tiêu luật pháp và hiến pháp. Vì thế, chế độ nhà nước của nền quân chủ lập hiến là tính không chịu trách nhiệm.
Còn nếu Hê-ghen tự bằng lòng về chỗ "nếu như lĩnh vực này có tính hiện thực của mìnhtách khỏi lĩnh vực của những yếu tố khác do lý tính quy định thì những lĩnh vực khác cũng vậy, chúng cũng có những quyền lợi và nghĩa vụ đặc trưng của chúng do bản chất của chúng quy định", thì ông ta cũng phải gọi chế độ nhà nước thời trung cổ là một cơ thể, như vậy, ở ông ta, chúng ta chỉ thấy có một mớ những lĩnh vực đặc thù gắn với nhau bằng sự tất yếu bên ngoài, và tất nhiên nhà vua bằng xương bằng thịt cũng chỉ thích hợp với những điều kiện đó mà thôi. Trong một nhà nước mà mỗi quy định đều tồn tại một cách biệt lập, thì chủ quyền nhà nước cũng chỉ có thể được xác lập thông qua một con người đặc thù mà thôi.
Tóm tắt những điều mà Hê-ghen đã nói về quyền lực nhà vua hay về ý niệm chủ quyền nhà nước.
Ở §279, chú thích, tr.367, có nói:
"Có thể nói về chủ quyền của nhân dân theo ý nghĩa là đối với thế giới bên ngoài, nhân dân nói chung là một cái gì độc lập và cấu thành nhà nước của chính mình, ví như nhân dân Đại Bri-ten; nhưng nhân dân Anh, hoặc Xcốt-len, Ai-rơ-len, hoặc Vơ-ni-dơ, Giê-nơ, Xây-lan v.v., không còn là nhân dân có chủ quyền từ khi họ không còn có ông vua riêng của mình, hoặc chính phủ tối cao riêng của mình".
Như vậy, ở đây, chủ quyền của nhân dân là tính dân tộc, chủ quyền của nhà vua là tính dân tộc; hoặc nguyên tắc của quyền lực nhà vua là tính dân tộc; tính dân tộc, tự nó và chỉ có một mình nó, hình thành chủ quyền của nhân dân. Nhân dân mà chủ quyền chỉ nằm trong tính dân tộc, thì có nhà vua. [Theo Hê-ghen], những tính dân tộc khác nhau của các dân tộc có thể được củng cố tốt hơn hết và được biểu hiện tốt hơn hết bằng những ông vua khác nhau. Cái hố sâu tồn tại giữa một cá nhân tuyệt đối này với một cá nhân tuyệt đối khác, cũng tồn tại giữa các dân tộc ấy.
Người Hy Lạp(và người La Mã) đã có tính dân tộc, bởi vì và cũng vì họ đã là nhân dân có chủ quyền. Người Đức là có chủ quyền, bởi vì và cũng vì họ có tính dân tộc.
"Cái gọi là pháp nhân", đoạn chú thích đó viết tiếp, “tức hội, đoàn thể, gia đình, - dù cho bản thân nó có cụ thể như thế nào chăng nữa - vẫn chỉ có nhân cách với tính cách là một yếu tốtrừu tượng của bản thân nó: nhân cách trong pháp nhân không đạt tớichân lý tồn lại của mình. Còn nhà nước thì chính là cái tổng thể trong đó những yếu tố của khái niệm đạt tới tính hiện thực phù hợp với chân lýđặc biệt của chúng".
Pháp nhân - hội, gia đình, v.v. - chỉ bao hàm nhân cách một cách trừu tượng; ngược lại, trong nhà vua, nhà nước lại bao hàm trong một con người.
Kỳ thực, chỉ với tư cách là pháp nhân, tức hội, gia đình v.v.. thì con người trừu tượng mới nâng con người của mình lên tới trình độ sự tồn tại chân chính. Nhưng Hê-ghen lại hiểu hội, gia đình, v.v., tức pháp nhân nói chung, không phải là sự thực hiện của con người kinh nghiệm hiện thực, mà là con người hiện thực, tuy chỉ chứa đựng trong mình nó yếu tố nhân cách một cách trừu tượng. Vì thế ở ông ta, không phải con người hiện thực đi tới nhà nước, mà nhà nước còn phải đi tới con người hiện thực. Vìvậy, lẽ ra phảichỉ rõ nhà nước là hiện thực cao nhất của con người, là hiện thực xã hội cao nhất của con người, thì Hê-ghen lại suy tôn con người kinh nghiệm đơn nhất, con người kinh nghiệm, lên thành hiện thực cao nhất của nhà nước. Việc đánh tráo cái chủ quan bằng cái khách quan và cái khách quan bằng cái chủ quan (sự đánh tráo này là hậu quả của việc Hê-ghen muốn viết tiểu sử của thực thể trừu tượng, của ý niệm, thành thử ở ông ta hoạt động của con người, v.v., vì thế mà phải thể hiện ra thành hoạt động và kết quả của một cái khác nào đó; là hậu quả của việc Hê-ghen muốn bắt bản chất con người, tự bản thân nó, với tư cách là một tính đơn nhất tưởng tượng nào đó, phải hoạt động, chứ không phải bắt con người phải hoạt động trong sự tồn tại của con người hiện thực của nó) - sự xuyên tạc đó mang lại hậu quả tất yếu là một sự tồn tại kinh nghiệm nào đó được coi là chân lý hiện thực của ý niệm một cách không có phê phán. Vì ở Hê-ghen, vấn đề không phải là quy sự tồn tại kinh nghiệm thành chân lý của nó, mà là quy chân lý thành một sự tồn tại kinh nghiệm nào đó, hơn nữa, một tồn tại kinh nghiệm bất kỳ nào cũng đều được coi là yếu tố hiện thực của ý niệm. (Về việc chuyển hóa kinh nghiệm thành tư biện và tư biện thành kinh nghiệm một cách tất yếu như vậy, sau này chúng ta sẽ nói đến một cách tỉ mỉ hơn.)
Làm như vậy thì cũng tạo ra được một ấn tượng thần bí và sâu sắc. Nếu nói rằng con người nhất định phải được đẻ ra, và sinh vật ấy, do sự sinh đẻ nhục thể tạo ra, trở thành con người xã hội, v.v., cho đến thành công dân của nhà nước; tất cả những gì con người trở thành đều là do sự sinh ra mình mà có - nói như thế thì nghe rất tầm thường. Nhưng nếu nói rằng ý niệm nhà nước được sản sinh ra một cách trực tiếp, rằng trong việc sản sinh ra nhà vua, ý niệm tự tạo ra bản thân và có được sự tồn tại kinh nghiệm, thì dường như rất thâm thúy, rất kỳ lạ. Như thế chúng ta không có được một nội dung mới nào cả mà chỉ thay đổi hình thức của nội dung cũ thôi. Nội dung đó bây giờ đã có được hình thức triết học, đã có được cái giấy chứng nhận triết học.
Một hậu quả khác của sự tư biện thần bí ấy là: tồn tại kinh nghiệm đặc thù, tồn tại kinh nghiệm đơn nhất, khác với những tồn tại khác, được coi là tồn tại hiện có của ý niệm. Khẳng định rằng trước mặt chúng ta có sự tồn tại kinh nghiệm đặc thù do ý niệm tạo ra, và vì vậy, chúng ta gặp sự hóa người của thượng đế ở tất cả các giai đoạn, - thì cũng lại gây một ấn tượng sâu xa, thần bí.
Nếu như trong khi xem xét gia đình, xã hội công dân, nhà nước, v.v., những hình thức tồn tại xã hội ấy của con người được coi là sự thực hiện của bản chất con người, là sự khách thể hóa bản chất đó, thì gia đình v.v., sẽ là những phẩm chất vốn có bên trong của chủ thể. Con người bao giờ cũng vẫn là bản chất của tất cả những tổ chức xã hội ấy, nhưng những tổ chức này lại cũng thể hiện ra là tính phổ biến hiện thực của con người, do đó cũng là cái chung của mọi người. Nếu ngược lại, gia đình, xã hội công dân, nhà nước v.v. là những tính quy định của ý niệm, của thực thể coi là chủ thể, thì chúng phải có được tính hiện thực kinh nghiệm, và khi đó, cái khối người mà trong đó ý niệm xã hội công dân phát triển, là những người tư sản; còn khối người còn lại [trong đó ý niệm về nhà nước phát triển] là công dân của nhà nước. Vì nói cho đúng ra, vấn đề ở đây chỉ là ẩn dụ, chỉ là gán cho một tồn tại kinh nghiệm nào đó ý nghĩa của ý niệm đã được thực hiện, cho nên rõ ràng là những thùng chứa ấy của ý niệm đã hoàn thành sứ mệnh của mình, một khi chúng đã trở thành những hiện thân cụ thể của một yếu tố nào đó trong đời sống của ý niệm. Vì vậy, ở đây cái phổ biến đâu đâu cũng xuất hiện như là một cái gì đặc thù, xác định; còn cái đơn nhất thì bất cứ ở đâu cũng không đạt tới tính phổ biến hiện thực của mình.
Vì vậy, quan niệm cho rằng những tính quy định trừu tượng nhất, những cơ sở tự nhiên của nhà nước, như sự sinh đẻ (ra nhà vua) hoặc sở hữu tư nhân (trong chế độ con trưởng thừa kế), cònhoàn toàn chưa chín mùi cho sự thực hiện xã hội thật sự, đều thể hiện ra là những ý niệm tối cao, được hóa thành ngườimột cách trực tiếp, - quan điểm đó tất nhiên phải có vẻ là sâu xa nhất, tư biện nhất.
Và điều đó tự nó đã rõ ràng. Mối quan hệ thật sự ở đây đã bị đặt lộn ngược. Ở đây, điều giản đơn nhất được miêu tả thành điều rối rắm nhất; còn điều rối rắm nhất lại được miêu tả thành điều giản đơn nhất. Cái phải là điểm xuất phát thì trở thành kết quả thần bí, còn cái lẽ ra phải có với tư cách là kết quả hợp lý thì lại trở thành điểm xuất phát thần bí.
Nhưng, nếu như nhà vua là con người trừu tượng, chứa đựng nhà nước trong bản thân con người của mình, thì nói chung, điều này chỉ có nghĩa là bản chất nhà nước là con người tư nhân trừu tượng. Chỉ ở giai đoạn trưởng thành của mình, nhà nước mới để lộ bí mật của mình. Nhà vua là tư nhân duy nhất, trong đó mối quan hệ của tư nhân nói chung với nhà nước được thực hiện.
Tính chất thế tập của nhà vua nảy sinh từ khái niệm nhà vua. Nhà vua hình như là con người khác một cách đặc thù với toàn bộ loài của mình, với tất cả mọi người khác. Vậy thì căn cứ vào cái dấu hiệu cuối cùng, đáng tin cậy nhất nào mà phân biệt người này với người khác? Vào thể xác. Chức năng tối cao của thể xác là hoạt động tái sản sinh ra loài, vì thế hoạt động tái sản sinh ra loài của nhà vua là hành động lập hiến tối cao của nhà vua, vì bằng hoạt động này nhà vua lại sản sinh ra vua và làm cho thể xác của mình tồn tại mãi mãi. Thể xác của con vua là sự tái sinh của thể xác của bản thân nhà vua, là sự sáng tạo ra thể xác nhà vua.
(còn nữa)
Do C.Mác viết vào mùa hè năm 1843
Được Viện Mác - Ăng-ghen - Lê-nin - Xta-lin công bố lần đầu tiên bằng tiếng nguyên bản năm 1927
In theo bản thảo
Nguyên văn là tiếng Đức
Nguồn: C.Mác và Ph.Ăng-ghen. Toàn tập. Tập 1 (1842-1844). Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia, 1995. Bản điện tử: http://www.cpv.org.vn
[1]- mối liên hệ thực thể, mối liên hệ sâu sắc
[2]- "chủ quyền được nhân cách hóa"
[3]- "Nhà nước là ta".
[4]- dù như thế nào chăng nữa.
[5]- chính cống.
[6]- nhà nước, nước cộng hòa (ý nghĩa ban đầu: việc công)
[7]- bởi vì các cực lại gặp nhau.
Nguồn: http://diendankienthuc.net.
Bookmarks